Hiển thị các bài đăng có nhãn Học để làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Học để làm. Hiển thị tất cả bài đăng

4 thg 9, 2014

Suy ngẫm???

Chất lượng giáo dục không chỉ từ tiền

Có một nhầm tưởng dai dẳng về giáo dục VN - đó là do chúng ta còn nghèo, phần chi cho giáo dục ít nên đành chịu chất lượng thấp. Kể cả khi tính theo con số thống kê chính thức hay con số thực chi thì tỷ lệ chi cho giáo dục trên GDP của nước ta vào loại cao nhất nhì thế giới.

Bởi ngoài phần chi từ ngân sách (chiếm trên 20% ngân sách) còn có những khoản chi từ phụ huynh (cũng chiếm một tỷ trọng rất cao trên thu nhập của gia đình).
Thế nhưng vì cái nhầm tưởng dai dẳng đó, nhiều phụ huynh vào đầu năm học mới vẫn phải cắn răng nộp nhiều khoản tiền, cả có tên và không tên cho con, mong sao góp phần nâng chất lượng giáo dục lên một chút. Đó là môi trường béo bở cho những toan tính “thương mại hóa” - từ việc đầu tư máy móc lãng phí đến các hình thức học thêm, dạy thêm - tất cả được triển khai dưới danh nghĩa tìm cách “đột phá” về chất lượng.
Đúng là tiền bạc có mối tương quan chặt chẽ với chất lượng giáo dục nhưng tiền bạc không phải là yếu tố quyết định, chưa kể một khi nguồn lực bị chi sai, dàn trải, lãng phí như thực tế đã diễn ra.
Chất lượng giáo dục cũng chưa hẳn là ở chương trình học, sách giáo khoa, cách tổ chức các kỳ thi cuối khóa hay kỳ thi tuyển sinh vào đại học - là những vấn đề chúng ta đang cố gắng thúc đẩy cũng trong nỗ lực nâng cao chất lượng của nền giáo dục và đang tạo ra những lo lắng do xáo động cho học sinh (HS), phụ huynh.
Có một thực tế không thể chối cãi: đó là nguồn nhân lực có kỹ năng cao cho rất nhiều ngành nghề đang thiếu trầm trọng đến nỗi các doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp FDI phải tuyển dụng người từ Ấn Độ, Philippines hay từ các nước láng giềng khác. Số ít nhân lực này do cầu lớn hơn cung nhiều lần nên liên tục nhảy việc để tìm mức lương cao hơn. Nếu nền giáo dục của nước nhà tiếp tục không đào tạo được đội ngũ nhân lực đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế và xã hội, chỉ cần đến năm sau, khi Cộng đồng kinh tế ASEAN hình thành, nguồn nhân lực như thế sẽ từ các nước ASEAN khác tràn vào nước ta, đặc biệt ở các ngành du lịch, kiểm toán, tài chính...
Nhưng, lo thì lo, không khéo chúng ta cũng chỉ loay hoay tập trung vào câu chuyện cải cách ở khâu đào tạo hay thí điểm tự chủ về tài chính ở đại học - cũng rơi vào chỗ nhầm tưởng phải đầu tư vật chất nhiều hơn mới giải được bài toán này.
Yếu tố quyết định đến chất lượng giáo dục, ngay từ cấp tiểu học cho đến bậc đại học là tinh thần tự do trong học tập, tư duy lật đi lật lại vấn đề, cách suy nghĩ học để lấy kiến thức, để ứng xử trong cuộc sống chứ không phải học để thi cử hay vì bằng cấp. Môi trường giáo dục của chúng ta hiện đang thiếu vắng một tinh thần như thế, cả ở thầy lẫn trò. Cũng không phải do sự hạn chế hay ràng buộc nào về mặt chủ trương, chính sách; tất cả chỉ do một quán tính từ thời tập trung bao cấp, quen với nếp học từ chương, quen với thái độ “độc quyền chân lý” trong ngành giáo dục. Quan trọng nhất là không ai xem đó là vấn đề quan trọng cần cải tiến.
Thế giới đang thay đổi với tốc độ chóng mặt, các thành phần khác của xã hội như doanh nghiệp đã phần nào xoay chuyển để thích nghi với môi trường mới nhưng giáo dục thì chưa.
Chúng ta cứ nói lấy người học làm trung tâm nhưng liệu đã có những biện pháp nào để khắc phục cách giáo dục thầy giảng, trò nghe; liệu nhà trường hiện nay đã chấp nhận cảnh HS chất vấn lại thầy cô nếu các em chưa đồng ý một vấn đề nào đó; liệu cộng đồng giáo dục đã chấp nhận sự khác biệt trong tư duy hay tất cả phải theo một khuôn mẫu nhất định.
Cũng chính vì làm theo quán tính cũ, chúng ta chưa chú tâm đúng mức để rèn luyện cho HS các kỹ năng rất quan trọng nhằm chuẩn bị cho các em vào đời như kỹ năng hợp tác làm việc theo nhóm, kỹ năng độc lập tìm tòi nghiên cứu một vấn đề, kỹ năng ứng xử văn minh trong một xã hội nối kết. Nói đâu xa, thử hỏi sau nhiều vụ việc thương tâm, liệu nhà trường đã chú ý dạy cho trẻ nhỏ cách tự bảo vệ mình trước các hiện tượng xâm hại, lạm dụng, bày cho các em biết về quyền của các em trước người lớn, kể cả quyền bày tỏ ý kiến.
Chỉ khi HS học được cách tư duy độc lập, các em mới học được kỹ năng tự học, tự đào tạo để từ đó thích nghi với mọi thay đổi trong môi trường làm việc sau này. Đó chính là sự khác biệt giữa một nền giáo dục có vài em được giải quốc tế và một nền giáo dục đào tạo nhiều nhà quản lý giỏi cho nền kinh tế.
Vũ Phan

26 thg 10, 2013

ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA 2015


Tích hợp môn học, làm bộ SGK chuẩn
Chương trình giáo dục trong nước sau năm 2015 sẽ hướng đến việc học sinh làm được gì sau khi học chứ không phải là học được cái gì.

Chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 sẽ triển khai trên cơ sở dạy học tích hợp, kết hợp chủ đề, tích hợp nội môn, liên môn, xuyên môn trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội - nhân văn, khoa học - công nghệ. Thông tin trên được đề cập tại hội thảo Hệ thống môn học, hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 do Bộ GD&ĐT tổ chức ngày 26-10.
Cần một chương trình chuẩn              
Nhiều đại biểu thống nhất cao rằng cần phải có một chương trình sách giáo khoa (SGK) chuẩn mới có một nền trí thức vững bền.
PGS-TS Đỗ Ngọc Thống, Chuyên trách về đổi mới chương trình SGK sau năm 2015, nhấn mạnh nội dung của các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông cần được xây dựng một cách tổng thể, xuyên suốt từ tiểu học đến THPT, đảm bảo tính thống nhất, hệ thống và liên thông giữa các cấp học, môn học và giữa giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp và hoạt động giáo dục sau phổ thông.
Khi mà học trò lựa chọn, thầy giáo lựa chọn để học thì chứng tỏ chương trình đó đạt hiệu quả và chất lượng.
Theo nhóm nghiên cứu Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (Bộ GD&ĐT), khi xây dựng chương trình giáo dục phổ thông, để có thể xác định được kế hoạch giáo dục, trước hết phải hình dung có bao nhiêu lĩnh vực học tập, bao nhiêu môn học và hoạt động giáo dục. Trên cơ sở đó xác định phạm vi, cấu trúc, mức độ của nội dung từng môn học, từng hoạt động giáo dục.
Theo GS Nguyễn Xuân Hãn, chương trình SGK là nền móng của ngành giáo dục. “Chương trình giáo dục là cốt lõi của nền học vấn, chúng ta đã ba lần đổi mới về giáo dục nhưng từ năm 1980 đến nay chúng ta chưa hề có chương trình SGK chuẩn từ phổ thông đến đại học” - GS Hãn nói.
GS-TS Đinh Quang Báo, Thường trực Ban Soạn thảo Đề án đổi mới chương trình SGK, đề nghị Bộ GD&ĐT phải xây dựng một bộ SGK chuẩn, bên cạnh đó động viên, khuyến khích những nhà xuất bản cùng các tác giả khác dựa vào chương trình cùng pháp lệnh biên soạn SGK. “Thực tiễn sẽ là đơn vị thẩm định tốt nhất đối với bộ SGK đó” - GS Báo nói.
Không phải cứ na ná nhau là tích hợp!
Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho rằng chương trình giáo dục của Việt Nam hiện cắt khúc, thiếu sự đồng nhất, không có một chuẩn mực chung nào. Do vậy, cần phải gộp chung lại theo hướng giảm bớt số môn học bắt buộc, tăng số môn học tự chọn, học sinh tự chọn môn học, khắc phục được tính dạy dàn trải, phát huy được năng lực riêng của học sinh. Hướng đến việc học sinh làm được gì sau khi học chứ không phải là học được cái gì.
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng việc tích hợp cần phải tính toán thật kỹ lưỡng, gộp môn nào, lĩnh vực nào. Căn cứ vào đâu để tích hợp những môn này vào một nhóm, môn kia vào một nhóm. Các nước tích hợp như thế nào, khi đưa vào Việt Nam phải cải tiến ra sao.
Hệ thống môn học theo đề án đổi mới
Tiểu học: Gồm các môn bắt buộc: toán, tiếng Việt, tìm hiểu tự nhiên và xã hội, đạo đức (các lớp 1, 2, 3). Lớp 4 và lớp 5 hình thành hai môn tìm hiểu tự nhiên (gồm các chủ đề vật lý, hóa học, sinh học, khoa học trái đất) và môn tìm hiểu xã hội (gồm các chủ đề về lịch sử, địa lý, giáo dục sức khỏe, kinh tế gia đình). Ngoài ra, còn có bốn hoạt động giáo dục: thể dục, âm nhạc, mỹ thuật, tập thể và các môn học tự chọn.
THCS: Gồm bảy môn bắt buộc: toán, ngữ văn, ngoại ngữ, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, giáo dục công dân và công nghệ. Cấp THCS cũng có bốn hoạt động giáo dục: thể dục, nghệ thuật, hướng nghiệp và tập thể và các môn học tự chọn.
Cấp THPT: Sẽ thực hiện phân hóa ở lớp 10 với khối lớp 11 và 12. Theo đó, lớp 10 sẽ phải học 11 môn bắt buộc gồm: ngữ văn, toán, giáo dục công dân, ngoại ngữ, vật lý, hóa học, sinh học, lịch sử, địa lý, tin học, công nghệ. Lớp 11 và lớp 12 sẽ chỉ còn ba môn học bắt buộc đó là: ngữ văn, toán và ngoại ngữ. Tự chọn bắt buộc ba trong số các môn: vật lý, hóa học, sinh học, lịch sử, địa lý, tin học, công nghệ, giáo dục công dân và xã hội học. Các hoạt động giáo dục bắt buộc ở cả ba khối cấp đều gồm: thể chất, hướng nghiệp, quốc phòng an ninh và tập thể. Học sinh THPT được lựa chọn môn học chuyên sâu thuộc các môn trong chương trình học tùy theo năng lực, sở thích.
HUY HÀ