Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư duy phản biện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư duy phản biện. Hiển thị tất cả bài đăng

1 thg 6, 2016

Học vẹt - Học thuộc lòng : Giống và khác nhau?

http://tuoitre.vn/tin/giao-duc/20160530/hay-cham-dut-tinh-trang-hoc-thuoc-long/1109647.html
30.5.2016
----------------------
Hãy tỉnh táo! Xin hãy tìm hiểu trang bị cho mình đủ kiến thức trước khi phê phán! Học thuộc lòng là một phương pháp học, rèn luyện trí não mà cụ thể ở đây là khả năng ghi nhớ. Hẳn chúng ta không ai không từng ngưỡng mộ những người có trí nhớ siêu việt đọc đâu nhớ đó. Vì vậy, tôi chắc rằng người viết định nói về "Học vẹt", nghĩa là học thuộc mà không hiểu. Nó khác hẳn với "Học thuộc lòng" nghĩa là học thuộc và hiểu trong lòng. Đối với các em học sinh, khi chưa có nhiều kiến thức cơ bản thì việc học thuộc lòng là cần thiết đê các em sớm lấp đầy phần nào các khoảng trồng kiến thức mà nhân loại đã tích luỹ hàng ngàn năm. Đừng hô hào, đòi hỏi sự sáng tạo ở những em học sinh khi chưa có đủ kiến thức và kỹ năng cơ bản (ngoại trừ một số hiếm hoi các em có khả năng vượt trội). Đừng đặt vấn đề "chấm dứt tình trạng học thuộc lòng" để làm dư luận nhầm lẫn và coi thường một phương pháp rèn luyện tư duy quan trọng ở bậc học PHỔ THÔNG. Sáng tạo chính là ở chỗ hãy suy nghĩ làm cho phương pháp học thuộc lòng trở nên dễ dàng hơn, dễ nắm bắt, dễ hiểu hơn. Hãy phân bệt và dùng đúng từ "Học vẹt" và "học thuộc lòng".
---------------------------------------
Soạn sẵn đề cương rồi học thuộc lòng để kiểm tra, thi cử... khiến học sinh thui chột sáng tạo, thiếu kỹ năng cần thiết, nhưng vì điểm số, thành tích mà lối học thi đó vẫn tồn tại dai dẳng, gây nhiều hệ lụy...
Hãy chấm dứt tình trạng học thuộc lòng
Học sinh Trường THCS-THPT Nhân Văn (TP.HCM) thuyết trình về đề tài “Khám phá dừa” sau khi đi trải nghiệm tại Bến Tre. Học sinh rất cần những chuyến đi trải nghiệm - Ảnh N.Hùng
“Nếu “đơn đặt hàng” nhỏ này được bộ trưởng quan tâm, giải quyết hiệu quả, tôi tin rằng sẽ có nhiều “đơn hàng” lớn hơn từ những người tâm huyết với giáo dục cùng chung tay góp sức với bộ trưởng chấn hưng nền giáo dục nước nhà!
​Trước mỗi kỳ thi, từ bậc tiểu học cho đến THPT, học sinh nào cũng ôm một chồng đề cương ôn tập. Từ các môn xã hội như văn, sử, địa đến các môn tự nhiên như lý, hóa, sinh đều có đề cương. 
Học sinh cứ bám vào đề cương học thuộc lòng từng câu, từng chữ một cách khổ sở. Vì sao học sinh chấp nhận bỏ thời gian “gạo bài” khổ sở mà không dám học nắm bắt các ý chính, sau đó trình bày theo ý mình cho đỡ vất vả hơn?
Vì sao từ năm học 2009-2010, Bộ GD-ĐT đã “cởi trói” cho cả thầy lẫn trò bằng chủ trương đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng phát huy năng lực người học, lấy học sinh làm trung tâm... nhưng đến nay việc triển khai thực hiện chưa hiệu quả?
Câu trả lời là do một bộ phận không nhỏ giáo viên đã quen với cách dạy cũ, ngại đổi mới, lười đầu tư trí tuệ... nên cứ “lối cũ ta về” cho khỏe. Trong khi đó, học sinh cũng đã quen với cách học - thi theo phương pháp truyền thống nên cũng không nhiệt tình hưởng ứng...
Một giáo viên dạy môn lịch sử ở một trường phổ thông cho biết hưởng ứng chủ trương đổi mới, ra đề kiểm tra theo hướng “mở” (cho học sinh sử dụng tài liệu làm bài kiểm tra). Kết quả điểm rất thấp vì học sinh không biết tư duy (mà cũng có thể là lười tư duy) để làm bài.
Sau lần đó, học sinh đề nghị không làm bài kiểm tra “mở” nữa mà ra đề “đóng” với câu hỏi chỉ cần học thuộc lòng là làm được, vì học sinh đã quen với cách học - thi theo kiểu cũ. Tình hình cũng tương tự ở các môn khoa học tự nhiên khi phần lớn các em rất lười tự học, lười tự giải bài tập, lười suy nghĩ...
Đây là lý do hầu hết học sinh đi học thêm, học ngày rồi lại học đêm. Ở lớp học thêm các em nghe, chép bài giải của thầy cô rồi... học thuộc để làm bài kiểm tra tương tự, thậm chí giống y chang!
Kết quả nhờ học thêm, nhờ học theo đề cương mà có nhiều em làm bài điểm cao, được xếp loại giỏi nhưng thật ra không hề giỏi.
Lâu nay chúng ta cứ quan niệm rằng thi điểm cao là giỏi. Thật ra đó chỉ là những người có trí nhớ tốt, tái hiện kiến thức tốt hơn nên được điểm cao chứ năng lực đôi khi chỉ ở mức trung bình. Học thuộc kiến thức sách vở rồi viết lại, nói lại không thiếu một câu, một chữ mà không hiểu cặn kẽ bản chất vấn đề vẫn được cho là giỏi.
Theo quan điểm đánh giá học sinh hiện đại thì việc tái hiện kiến thức tốt chỉ mới ở mức trung bình và khá. Còn học sinh biết vận dụng kiến thức nghĩ ra được cái mới, phát minh ra các công trình khoa học, nghiên cứu, các dụng cụ học tập mới, các ứng dụng cho cuộc sống tốt đẹp hơn... mới được đánh giá là giỏi. Tôi hi vọng bộ trưởng sẽ đồng tình với quan điểm đánh giá học sinh hiện đại, nói không với sự ru ngủ nhau bằng những thành tích ảo.
Vì vậy, tôi mong bộ trưởng hãy chấm dứt tình trạng học thuộc lòng, chú trọng phát huy năng lực tư duy của người dạy và người học. Để được như vậy cần quán triệt thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả việc đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới kiểm tra đánh giá. Đây mới chính là khâu then chốt bởi dù chúng ta có chương trình hiện đại, có bộ sách giáo khoa tiên tiến mà phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá vẫn theo lối cũ thì chất lượng giáo dục khó được nước ngoài thừa nhận.
Thưa bộ trưởng, tôi không yêu cầu bộ trưởng giải quyết rốt ráo những tồn tại của giáo dục nước nhà, tôi chỉ mong trong nhiệm kỳ của mình, bộ trưởng chấm dứt được tình trạng học thuộc lòng, đổi mới thành công phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá là “ghi điểm” thành công rồi.
PHẠM ĐƯỢC

4 thg 9, 2014

Suy ngẫm???

Chất lượng giáo dục không chỉ từ tiền

Có một nhầm tưởng dai dẳng về giáo dục VN - đó là do chúng ta còn nghèo, phần chi cho giáo dục ít nên đành chịu chất lượng thấp. Kể cả khi tính theo con số thống kê chính thức hay con số thực chi thì tỷ lệ chi cho giáo dục trên GDP của nước ta vào loại cao nhất nhì thế giới.

Bởi ngoài phần chi từ ngân sách (chiếm trên 20% ngân sách) còn có những khoản chi từ phụ huynh (cũng chiếm một tỷ trọng rất cao trên thu nhập của gia đình).
Thế nhưng vì cái nhầm tưởng dai dẳng đó, nhiều phụ huynh vào đầu năm học mới vẫn phải cắn răng nộp nhiều khoản tiền, cả có tên và không tên cho con, mong sao góp phần nâng chất lượng giáo dục lên một chút. Đó là môi trường béo bở cho những toan tính “thương mại hóa” - từ việc đầu tư máy móc lãng phí đến các hình thức học thêm, dạy thêm - tất cả được triển khai dưới danh nghĩa tìm cách “đột phá” về chất lượng.
Đúng là tiền bạc có mối tương quan chặt chẽ với chất lượng giáo dục nhưng tiền bạc không phải là yếu tố quyết định, chưa kể một khi nguồn lực bị chi sai, dàn trải, lãng phí như thực tế đã diễn ra.
Chất lượng giáo dục cũng chưa hẳn là ở chương trình học, sách giáo khoa, cách tổ chức các kỳ thi cuối khóa hay kỳ thi tuyển sinh vào đại học - là những vấn đề chúng ta đang cố gắng thúc đẩy cũng trong nỗ lực nâng cao chất lượng của nền giáo dục và đang tạo ra những lo lắng do xáo động cho học sinh (HS), phụ huynh.
Có một thực tế không thể chối cãi: đó là nguồn nhân lực có kỹ năng cao cho rất nhiều ngành nghề đang thiếu trầm trọng đến nỗi các doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp FDI phải tuyển dụng người từ Ấn Độ, Philippines hay từ các nước láng giềng khác. Số ít nhân lực này do cầu lớn hơn cung nhiều lần nên liên tục nhảy việc để tìm mức lương cao hơn. Nếu nền giáo dục của nước nhà tiếp tục không đào tạo được đội ngũ nhân lực đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế và xã hội, chỉ cần đến năm sau, khi Cộng đồng kinh tế ASEAN hình thành, nguồn nhân lực như thế sẽ từ các nước ASEAN khác tràn vào nước ta, đặc biệt ở các ngành du lịch, kiểm toán, tài chính...
Nhưng, lo thì lo, không khéo chúng ta cũng chỉ loay hoay tập trung vào câu chuyện cải cách ở khâu đào tạo hay thí điểm tự chủ về tài chính ở đại học - cũng rơi vào chỗ nhầm tưởng phải đầu tư vật chất nhiều hơn mới giải được bài toán này.
Yếu tố quyết định đến chất lượng giáo dục, ngay từ cấp tiểu học cho đến bậc đại học là tinh thần tự do trong học tập, tư duy lật đi lật lại vấn đề, cách suy nghĩ học để lấy kiến thức, để ứng xử trong cuộc sống chứ không phải học để thi cử hay vì bằng cấp. Môi trường giáo dục của chúng ta hiện đang thiếu vắng một tinh thần như thế, cả ở thầy lẫn trò. Cũng không phải do sự hạn chế hay ràng buộc nào về mặt chủ trương, chính sách; tất cả chỉ do một quán tính từ thời tập trung bao cấp, quen với nếp học từ chương, quen với thái độ “độc quyền chân lý” trong ngành giáo dục. Quan trọng nhất là không ai xem đó là vấn đề quan trọng cần cải tiến.
Thế giới đang thay đổi với tốc độ chóng mặt, các thành phần khác của xã hội như doanh nghiệp đã phần nào xoay chuyển để thích nghi với môi trường mới nhưng giáo dục thì chưa.
Chúng ta cứ nói lấy người học làm trung tâm nhưng liệu đã có những biện pháp nào để khắc phục cách giáo dục thầy giảng, trò nghe; liệu nhà trường hiện nay đã chấp nhận cảnh HS chất vấn lại thầy cô nếu các em chưa đồng ý một vấn đề nào đó; liệu cộng đồng giáo dục đã chấp nhận sự khác biệt trong tư duy hay tất cả phải theo một khuôn mẫu nhất định.
Cũng chính vì làm theo quán tính cũ, chúng ta chưa chú tâm đúng mức để rèn luyện cho HS các kỹ năng rất quan trọng nhằm chuẩn bị cho các em vào đời như kỹ năng hợp tác làm việc theo nhóm, kỹ năng độc lập tìm tòi nghiên cứu một vấn đề, kỹ năng ứng xử văn minh trong một xã hội nối kết. Nói đâu xa, thử hỏi sau nhiều vụ việc thương tâm, liệu nhà trường đã chú ý dạy cho trẻ nhỏ cách tự bảo vệ mình trước các hiện tượng xâm hại, lạm dụng, bày cho các em biết về quyền của các em trước người lớn, kể cả quyền bày tỏ ý kiến.
Chỉ khi HS học được cách tư duy độc lập, các em mới học được kỹ năng tự học, tự đào tạo để từ đó thích nghi với mọi thay đổi trong môi trường làm việc sau này. Đó chính là sự khác biệt giữa một nền giáo dục có vài em được giải quốc tế và một nền giáo dục đào tạo nhiều nhà quản lý giỏi cho nền kinh tế.
Vũ Phan