Hiển thị các bài đăng có nhãn Môn Văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Môn Văn. Hiển thị tất cả bài đăng

15 thg 7, 2012

Nghề nghiệp và sự cao quý của con người


Đề thi cao đẳng môn Văn 2012
Nghề nghiệp không làm nên sự cao quý cho con người mà chính con người mới làm nên sự cao quý cho nghề nghiệp.”
Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh / chị về ý kiến trên.
------------------------------------
Gợi ý làm bài của báo Giáo dục

Thí sinh cần đáp ứng đúng các yêu cầu cơ bản của đề bài: Viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến: “Nghề nghiệp không làm nên sự cao quý cho con người mà chính con người mới làm nên sự cao quý cho nghề nghiệp”.
Thí sinh có thể trình bày nội dung theo những cách thức khác nhau. Sau đây là một cách làm cụ thể :
- Giới thiệu vấn đề: có ai đó đã nói rằng : “điều quan trọng nhất của con người là chọn cho mình một nghề để mưu sinh và sống với nó đến cuối đời”. Tuy nhiên, có nhiều người đã chọn nghề theo xu hướng của dư luận. Việc chọn lầm nghề để lại những hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân và xã hội. Vì vậy đã có ý kiến cho rằng “Nghề nghiệp không làm nên sự cao quý cho con người mà chính con người mới làm nên sự cao quý cho nghề nghiệp”. Sau đây chúng ta thử phân tích và bàn luận về ý kiến trên.
- Giải thích :
+ Nghề nghiệp là công việc chuyên môn, làm theo sự phân công lao động của xã hội.
+ Phân công xã hội ngày càng nhiều, càng sâu nên xã hội có nhiều ngành nghề và giữ vị trí khác nhau trong xã hội.
+ Xã hội thường xuyên phát triển; có nghề nghiệp mới phát sinh nhưng cũng có những nghề nghiệp phải bị tàn lụi. Do đó có nghề dễ mang lại sự thành công (danh tiếng, tiền của, địa vị…) nhưng cũng có nghề không được như vậy. Cho nên dẫn đến sự tồn tại trong xã hội quan niệm về sự cao quý, sang hèn, tốt xấu… trong nghề nghiệp.
- Bàn luận:
+ Nghề nghiệp không làm nên sự cao quý cho con người
* Mỗi nghề đều có đặc điểm, vị trí riêng trong cuộc sống xã hội.
* Nghề nghiệp nảy sinh từ nhu cầu xã hội, do đó mọi nghề đều cần thiết cho cuộc sống, vì thế mỗi nghề đều có vai trò không thể thiếu được trong đời sống xã hội, do đó nghề chân chính nào cũng đều cao quý cả.
* Tuy nhiên do đặc trưng riêng của một số ngành nghề, do ý nghĩa đặc biệt của nó đối với đời sống, một số ngành nghề được đặc biệt biểu dương: nghề dạy học, nghề thầy thuốc…
+ Mà chính con người mới làm nên sự cao quý cho nghề nghiệp
* Con người là chủ thể của hoạt động nghề nghiệp, có tính chất quyết định đối với giá trị của hoạt động nghề nghiệp.
* Con người có giá trị tự thân, chịu ảnh hưởng của môi trường, hoàn cảnh. Vì vậy có kẻ tốt, người xấu, chính vì thế điều này tạo nên giá trị của nghề nghiệp.
* Trong những ngành nghề được biểu dương đặc biệt vẫn có những “con sâu làm rầu nồi canh”. Trong những ngành nghề do bị thành kiến mà bị coi thường vẫn có những con người cao quý, có cách hành xử được mọi người ngưỡng mộ, ca ngợi.
* Làm rõ tại sao con người mang đến sự cao quý cho nghề nghiệp (dẫn chứng). Chính tư cách và đức hạnh sáng ngời của con người làm cho người khác phải tôn trọng nghề nghiệp của họ.
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Cần nhận thức: không nên có tư tưởng phân biệt nghề sang trọng, cao quý và nghề thấp hèn. Cần phê phán quan niệm phân biệt này vì nó không đúng đắn, nó tồn tại trong xã hội phong kiến ngày xưa và không nên tiếp tục trong cuộc sống ngày nay.
+ Cần thấy những việc làm không chính đáng: ví dụ  như trộm cướp, gian dối… để kiếm sống không phải là nghề nghiệp chân chính như chúng ta đang bàn.
+ Cần thấy giá trị đúng đắn của nghề nghiệp; nghề nghiệp chân chính nào cũng có giá trị và đều đáng được trân trọng. “Giá trị của một con người là lợi ích của họ mang lại cho người khác chứ không phải là nghề nghiệp của họ”.
+ Cần có thái độ đúng đắn khi chọn nghề. Không nên chạy theo quan điểm hời hợt (sang hèn…) về nghề nghiệp của một số người. Cần chọn nghề phù hợp với năng lực, với ước mơ, hoàn cảnh của bản thân, nhu cầu và sự phát triển của xã hội.
+ Với nghề nghiệp cần “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, chuyên tâm rèn luyện tay nghề, giữ gìn lương tâm nghề nghiệp, trao dồi đạo đức để làm hiển vinh nghề nghiệp, giá trị bản thân.
            - Tổng kết : “Không phải nghề nghiệp mang đến sự cao quý cho con người mà chính con người mang đến sự cao quý cho nghề nghiệp” là một ý kiến đúng đắn, nó là một lời khuyên, một lời nhắc nhở đối với mọi người nhất là đối với thanh niên đang đứng trước ngưỡng cửa lựa chọn nghề nghiệp.

1 thg 7, 2012

Niềm vui và sự khó khăn trong việc học môn Ngữ Văn



Đề bài: Em hãy viết một bức thư kể lại niềm vui và sự khó khăn của em trong việc học môn Ngữ Văn.
Bài làm:
Mẹ kính yêu của con !

Đầu năm học mới con đã vò đầu để suy nghĩ nên chọn học lớp chuyên Văn hay lớp chuyên Toán. Hai cánh cửa này thật khó lựa chọn. Nhưng rồi con đã tìm ra được cánh cửa cho tương lai của mình: con quyết định đeo đuổi Văn học. Dù con đường ấy có nhiều khó khăn , trắc trở nhưng nó là nhiệt huyết và lòng đam mê khiến con không thể từ bỏ.

Mẹ nói rằng khối C ít nghề, khó khăn cho định hướng của tương lai. Thời đại Công nghệ thông tin bùng nổ các môn xã hội như Ngữ văn bị xem nhẹ. Người ta đua nhau học các môn tự nhiên. Ngay cả những bạn trong lớp con học giỏi môn Văn cũng đăng kí vào lớp Toán. Con thấy buồn lắm mẹ ạ! Và lúc dó con thấy rằng câu nói: “Bi kịch của thời đại chúng ta là thừa trí tuệ , thiếu tâm hồn” của một nhà văn Mê Hi Cô là rất có lí.Thực ra khối C ít ngành nhưng chỉ ít hơn khối A, còn trong thực tế ngành nghề của nó cũng nhiều, rất nhiều đấy chứ. Danh ngôn đã nói rằng: “ Đồng xu luôn có hai mặt, một ngày có cả bóng đêm và ánh sáng”. Đâu phải những gì trở ngại cũng luôn đến với người học Văn. Ngược lại con thấy ở Văn học có rất nhiều điều tốt đẹp. Và thực sự nó mang lại niềm vui cho con.

Mẹ ạ ! Con nhớ mãi lời dặn của mẹ : “Làm gì cũng phải có lòng đam mê”. Không ngẫu nhiên mà mẹ yêu môn Toán. Toán dành cho bố, mẹ, anh vì sự đam mê. Còn con Văn học chính là nụ cười, sự thích thú. Con học Toán chẳng kém gì Văn nhưng chỉ Văn học mới đáp ứng được những gì mà con mong ước. Văn chương là một thế giới cho đi mà không cần sự đáp trả. Con đã thực sự bị lôi cuốn bởi những trang Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, con mêVang bóng một thời của Nguyễn Tuân, con đắm say vào Lão HạcChí PhèoĐời thừa của Nam Cao…và nhiều, nhiều những tác phẩm nữa đã gim chặt vào trái tim con. Không thực hiện được những đam mê của nình con thấy hẫng hụt, chán nản vô cùng. Ngữ Văn là người bạn tinh thần luôn đi sát cuộc đời con. Đánh mất một người bạn khác gì đánh mất chính mình, đánh mất ánh bình minh của sớm mai.

Con còn nhớ có một nhà thơ nói rằng: “ Thơ ca, nếu không có người tôi đã mồ côi”. Văn học như vị cứu tinh của cuộc đời. Học Văn tâm hồn con được giải tỏa, con không phải căng mắt lên vì những con số của bài toán, đau khổ vì những phương trình dao động của bài lí, mệt mỏi vì những công thức hóa học khó nhớ. Cứ mỗi lần đến giờ học Văn đầu óc con trở nên thư thái, tâm hồn thảnh thơi. Con chăm chú nghe tiếng nói ấm áp, truyền cảm của thầy. Những lúc đó con ước ao được như ngày xưa chỉ học mỗi văn chương, lấy văn chương làm trọng tâm thi cử. Ngươi hiền tài là người có văn hay, chữ tốt. Cái ước mơ đó của con không thể thành hiện thực với thời đại bây giờ nhưng sao nó cứ dồn nén lại hết thảy niềm vui, sự yêu thích của con.

Họ bảo rằng “học Văn không thiết thực” . Nhưng cuộc sống sẽ tối sầm lại nếu không có văn chương. Học văn con thấy mình giàu kiến thức cuộc sống, hiểu sâu hơn về cuộc đời. Người ta bảo thời kì Nga Hoàng con người sống hèn nhược, bảo thủ, ích kỉ, co mình, con vẫn không định hình ra được nhưng khi đọc tác phẩm Người trong bao của Sê khốp là con đã hiểu ra tất cả - hiểu cả một thời đại lịch sử. Hay như nỗi khổ của người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng Tám, qua trang sử con không có nhiều cảm xúc, sự cảm thương nhưng qua tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao con thấu hiểu nỗi khổ mà người nông dân phải gánh chịu; Con biết thế nào là người nông dân bị lưu manh hóa, bần cùng hóa.

Mẹ ơi! Nhiều lúc con tự hỏi: học hàng trăm định lí, công thức Toán học, nào là tích phân, vi phân, phép thử… nhưng áp dụng vào cuộc sống lại quá ít. Con chỉ thấy thông dụng ở cuộc sống những phép cộng, trừ, nhân, chia được học ở cấp I. Còn Văn, học bao nhiêu vẫn thấy không thừa. Văn học dạy cho con, cho mẹ và cho mọi người viết các văn bản, đơn giản nhất là giấy xin phép nghỉ học. Văn học dạy cho con cách nói năng, dùng từ đúng văn cảnh, hoàn cảnh nào là đúng đắn, hợp lí. Cũng dễ hiểu thôi vì Văn thuộc vào môn công cụ. Cuộc sống trong con lớn lên cũng nhờ văn học đó mẹ ạ !.
Không chỉ hiểu nhiều mà con còn nhận thức sâu về cuộc đời và rút ra nhiều bài học cho mình về cách sống . Có một nhà triết học nói rằng: “Ta tư duy nghĩa là ta tồn tại”. Sau mỗi tác phẩm Văn học con thường tư duy và nghĩ về cuộc sống. Sau Vội vàng của Xuân Diệu con biết quý trọng thời gian hơn nữa, luôn có ý thức sống hết mình , sống thật ý nghĩa trong quãng đời ngắn ngủi, phải làm được càng nhiều càng tốt những gì có thể; Sau Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ của Vũ Trọng Phụng) cho con biết tránh xa những cái lố lăng, bỉ ổi, đểu giả, học làm sang của tầng lớp tiểu tư sản, thị dân; Qua Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long con biết sống không cần biểu hiện, bày tỏ những cống hiến của mình, chỉ cần biết mình sẽ làm gì để cống hiến; Qua Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê con học cách đứng lên trong khó khăn, gian khổ, nhìn lên những ngôi sao của bầu trời để hướng về ngày mai xanh tươi, sáng rực. Thầy giáo dạy văn của con thường nói vui rằng: “Dạy Toán, học Văn, ăn Thể dục” để động viên các con về niềm vui của việc học Văn, con thấy đúng quá mẹ ạ ! Nhưng con cũng biết rằng một con đường không bao giờ thẳng tắp và lối đi của con chắc vẫn còn lắm gập ghềnh, khó nhọc. Cụ Phạm Công Trứ cũng đã từng nói:

Đã trót vướng vào duyên bút mực
Cả đời mang lấy số long đong.

Con không thấy cái long đong của văn học nhưng con thấy văn chương phải học nhiều. Đành rằng môn khoa học nào cũng phải học cả một đời. Nhưng các môn học khác chỉ cần học sách vở, học thầy, học bạn. Còn văn chương phải học hết những gì có trong cuộc sống. Học cách quan sát đối tượng để có kĩ năng miêu tả tốt, học cách cảm thụ để cảm nhận văn chương cho hay, cho đúng, học cách rèn luyện cảm xúc để bài viết mượt mà, mềm mại... Những việc đó nào có công thức, định lí để áp dụng mà đòi hỏi tự bản thân phải tư duy, sáng tạo. Hơn nữa đường lối đổi mới trong giáo dục hiện nay là lấy học sinh làm đối tượng trung tâm, lề lối thầy đọc trò chép đã bị xếp bỏ. Áp lực của học sinh trong đó có con sẽ tăng lên. Nhưng trong khó khăn lại có thuận lợi. Con nghĩ phương pháp này giúp con chủ động hơn trong học tập. Con được rèn luyện suy nghĩ, phát triển tư duy, được bày tỏ ý kiến của mình, thầy là người lắng nghe, gợi mở, chỉ cho con sai, đúng thế nào. Rất tuyệt phải không mẹ !

Mẹ bảo “học văn chi phối nhiều thời gian và bị ảnh hưởng bởi tâm trạng” . Con đồng ý! Một bài toán con làm trong 5 phút, bài quá khó thì có thể 30 phút, một tiếng đồng hồ. Nhưng một bài văn con làm ít nhất phải 2 tiếng. Có lúc con làm một bài văn hết 4,5 tiếng đồng hồ, mẹ hoảng hốt sợ con đam mê quá không học được môn khác. Con biết đó là những khó khăn không tránh khỏi nhưng con sẽ cố gắng vừa học tốt môn Văn vừa đảm bảo yêu cầu học các môn học khác. Bởi văn chương là cuộc đời, làm sao mà sơ sài trước cuộc đời được chứ ?

Còn về tâm trạng, đúng thật! Con thấy học ảnh hưởng rất nhiều từ tâm trạng . Khi vui đọc một bài thơ thấy rạo rực vô cùng, khi buồn thấy nó thật ai oán. Viết một bài văn trong tâm trạng tốt văn phong sẽ được thăng hoa, trong tâm trạng bất ổn văn sẽ khô khan, lủng củng. Con nghĩ, khó khăn ở đâu thì vượt lên ở đó. Con sẽ cố gắng giữ tâm trạng tốt, viết nên những bài văn vừa hay, vừa sâu mẹ nhé ! Tuy đam mê với văn chương nhưng nhiều lúc con cũng sắp quỵ gối với những bài lí luận văn học quá hóc búa. Với một thiếu niên chưa được bồi đắp đủ những kiến thức mà lần đầu tiếp xúc với văn lí luận, con thấy sợ. Nó có một cái gì đó trừu tượng, đa nghĩa rất khó cảm nhận. Học đi học lại nhưng vẫn thấy nó mới lạ như vị khách lạ đến nhà. Đôi lúc con nản và thốt lên “ Khó quá trời” . Nhưng càng khó càng phải học đúng không mẹ. Không ai bảo học là dễ.

Bên cạnh đó phương pháp để làm một bài văn hay cũng là một vấn đề phải suy nghĩ. Có thầy thích một bài văn đầy đủ ý, có thầy thích bài văn có chất văn mượt mà, có thầy yêu cầu cần thể hiện tốt kiến thức lí luận… Để đạt được những yêu cầu đó con phải đi tìm “mật mã” cho một bài văn hay. Mà đã là mật mã thì rất khó mở. Con cần một thời gian nữa. Mẹ hãy ủng hộ con nhé !

Mẹ ạ, con nêu ra cả niềm vui và những khó khăn khi học Ngữ văn để nói rằng con đã nhận thức và suy nghĩ thấu đáo về việc chọn vào lớp chuyên văn. Mẹ là điểm tựa của con. Con mong mẹ sẽ hiểu. Con sẽ đẩy lùi những khó khăn và đứng vững trên con đường con lựa chọn. Vòng nguyệt quế chỉ giành cho những ai biết tự bước đi - con tin tưởng bước đi của mình. Và trên bước đi đó mẹ sẽ là người nâng đỡ con mẹ nhé!
Cám ơn mẹ ! Con yêu mẹ !
(ST)
Trần Ngọc Hân


21 thg 6, 2012

Môn Văn và cuộc sống


Đề Văn về thói dối trá năm nay được các sĩ tử "vạch trần" từ chuyện bố mẹ lừa dối, ngoại tình đến bà hàng xóm lừa hụi bạc tỉ bỏ trốn với người yêu, thầy giáo gạ tình rồi nhà trường dạy học sinh quay cóp.

Muôn màu thói dối trá
Câu nghị luận xã hội của đề Văn năm nay được dư luận đặc biệt quan tâm bởi tính thời sự của nó. Các thí sinh cũng vậy. Bởi đây là vấn đề nóng của đạo đức xã hội nói chung và giới trẻ nói riêng nên hầu hết các bài làm đều trình bày khá cặn kẽ.
Tuy nhiên, vẫn có những điều mà nhiều giám khảo vẫn suy tư, trăn trở sau khi gấp lại bài làm của các em. Đó là thực trạng về sự dối trá được các em vạch ra khá rõ ràng, và hầu như các em thấy nó tồn tại nhan nhản ở mọi ngõ ngách của cuộc sống một cách hiển nhiên.
Từ chuyện bố mẹ ở nhà lừa dối nhau, ngoại tình dẫn đến tan vỡ hạnh phúc gia đình cho đến chuyện bà hàng xóm lừa tiền hụi bạc tỉ của bà con trong làng rồi bỏ trốn với tình nhân, bỏ chồng con ôm nợ nần…
Từ chuyện các ca sĩ hát nhép lừa khán giả cho đến chuyện thầy giáo gạ tình, lừa tình nữ sinh. Rồi cấp dưới lừa cấp trên, con cái lừa dối cha mẹ…
“Tất cả sự dối trá đều là những giáo trị ảo nhưng được khoác một chiếc áo rất thật trong đời sống xã hội hiện nay. Đáng buồn hơn là chiếc áo ấy được nhiều người mặc một cách không ngượng ngùng mà trái lại còn ra vẻ tự hào”, là nhận định của một thí sinh.
Thí sinh sau bài thi tốt nghiệp môn Văn tại Hà Nội.
Giật mình hơn nữa khi có thí sinh đưa ra “bài học thực tế” về sự dối trá ngay tại ngôi trường mà các em gắn bó 3 năm cuối của quãng đời học sinh. 
Thí sinh này kể lại rằng “câu chuyện mà em kể ở đây không biết có phải là bài học về sự dối trá hay không xin thầy cô hãy tự đặt tên cho nó. Số là trường THPT X. của em rất quan tâm đến điểm số thi cử và sợ chúng em thi rớt nên tổ chức một buổi họp mặt toàn thể học sinh lớp 12 của trường để tư vấn.
Đại diện ban giám hiệu cũng có mặt phát biểu động viên chúng em tự tin bước vào kì thi để đạt kết quả cao. Ngay sau phát biểu ấy, một cô giáo khác của trường được xem là một chuyên gia tư vấn dày dặn kinh nghiệm đã dành gần một tiếng rưỡi để nói về những mẹo vặt mùa thi.
Trong đó, cô dành hơn nửa thời gian ấy để chỉ cho chúng em cách thức chuẩn bị phao thi, cất ở đâu thì an toàn, làm sao để giám thi khó phát hiện để khi có cơ hội thì mới sử dụng, nếu gặp giám thị khó thì đừng dại dột mở ra; nếu hỏi bài bạn thì hỏi như thế nào, những lỗi nào giám thị có thể bỏ qua được… Và cuối cùng, cô kết luận rằng nếu có cơ hội mà không tận dụng nó để bằng mọi giá có kết quả cao thì thật là dại dột…
Sau khi ra khỏi hội trường, nhiều bạn bảo rằng mấy “chiêu” của cô tư vấn đa phần học sinh đã vận dụng nhưng lần này được chỉ thêm những mánh khóe mới và sẽ “tự tin” hơn trước kì thi vì được nhà trường chính thức dạy bảo, nếu được tư vấn sớm hơn chắc trong 3 năm học ở trường này các bạn không mất công rình mò để quay bài mỗi lần kiểm tra mà được công khai như cách nhà trường chỉ vậy…”.
Bài văn được viết trong kỳ thi, và có lẽ qua đây mọi người cũng hiểu thêm được rằng, không biết có bao nhiêu ngôi trường trực tiếp hay gián tiếp mách bảo các em như vậy để rồi thực tế đã diễn ra những cảnh bát nháo trường thi như ở Hà Tây và nhiều địa phương khác năm 2006, hay ngay ở Hội đồng thi THPT Đồi Ngô, tỉnh Bắc Giang năm nay? Khi mà sự dối trá được công khai dạy bảo cho các em bởi chính thầy cô thì thử hỏi các em sẽ trở thành những con người như thế nào khi bước ra xã hội?
Trong khi đó, một thí sinh sau khi chỉ ra hàng loạt hiện tược dối trá đã khẳng định thẳng thừng “Thật thà là cha thằng dại, vậy thì mấy ai ngu xuẩn thật thà chi cho phí công tốn sức. Cứ dối trá mà được lợi thì chẳng sướng hơn sao?”. Em khác thì bảo “…cả xã hội đều dối trá, người lớn dối trá thì đừng trách trẻ con. Nếu mình không như thế thì thật là lạc lõng, vì thế nên phải bị cuốn vào nó dù biết dối trá làm cho đạo đức con người đi xuống chứ khó đi lên…”
Có lẽ, sự xuống cấp về đạo đức xã hội, sự dối trá len lỏi vào đời sống và ngay cả học đường đã khiến cho một bộ phận bạn trẻ mất niềm tin vào những giá trị tốt đẹp của cuộc sống. 
Thử tìm nguyên nhân
Nói về sự yếu kém dẫn đến những bài văn ngô nghê của thí sinh thì có vô vàn nguyên nhân. Có người cho rằng chính phương pháp dạy và học Văn thụ động theo hướng truyền giảng một chiều theo kiểu đọc chép, học thuộc lòng… ở một số giáo viên; cách thi cử, ra đề và chấm điểm truyền thống bấy lâu nay theo hướng đếm ý đã làm tắt lửa nhiệt tình với bộ môn, triệt tiêu sự sáng tạo văn chương ở người học.
Nhưng có một điều tin chắc rằng những kiến thức sai lệch, cách hành văn chẳng giống ai ở trên không có thầy cô hay nhà trường nào dạy cho các em cả mà do lổ hổng kiến thức và kĩ năng của bản thân mỗi em gây ra. Có người bảo đây là những học sinh chây lười học tập, không có động cơ, mục đích sống mà chỉ đến trường do sự ép buộc của gia đình chứ bản thân các em không hề muốn đến với con chữ nên tất yếu kết quả không chỉ văn chương mà chắc rằng các môn học khác cũng chẳng hơn gì. 
Cũng có thể đây là những thí sinh tự do bỏ nhiều năm giờ quay lại thi cầu may kiếm tấm bằng tú tài lận lưng hòng xin việc làm nên kiến thức rơi rụng dần theo năm tháng, vào phòng thi nghĩ sao viết vậy! Rồi sự nhìn nhận, đánh giá của xã hội đối với bộ môn này cũng còn quá nhẹ trong khi đây là môn học làm người.
Cứ nhìn vào cơ hội ngành nghề dự thi vào các khoa, các trường thuộc các khối có môn Ngữ văn lép vế so với các khối khác. Chưa kể cơ hội việc làm sau khi ra trường của các ngành này cũng không phải dễ dàng. Chính vì vậy, chỉ lấy khối C đăng kí dự thi ĐH-CĐ hàng năm ở mỗi trường phổ thông chỉ lèo tèo vài bộ hồ sơ cũng đủ thấy bức tranh ảm đạm.
Do vậy, cần lắm một cuộc mổ xẻ về việc dạy và học Văn, nhìn nhận đánh giá tác động của môn học này đối với đời sống xã hội để từ đó có cái nhìn đúng đắn, đầy đủ và toàn diện. Nếu môn Văn được trả về đúng vị trí của nó thì chắc chắn bài học làm người sẽ nhẹ nhàng và sâu sắc hơn ngay trên ghế nhà trường phổ thông. Bởi, chính đại văn hào Maxim Gorki đã nói “Văn học là nhân học”.
GIÁO TRỌNG
Theo Infonet

8 thg 5, 2012

Tư liệu : Yêu Tiếng Việt



Nhấn vào đây đề xem bài viết cảm nhận ( trong lúc nghe nhạc)


Nhấn vào line  để nghe nhạc 
                                               http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=4V8qhKfPNT

Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời À à ơi, tiếng ru muôn đời
Lời ru ấy sẽ còn mãi muôn đời vì đuợc truyền tụng từ đời này sang đời khác . Tiếng nuớc tôi , nhạc sỹ đã khéo léo lồng vào đó , cột mốc để trẻ con , khi nghe nhạc phẩm -là cũng biết dòng lịch sử của Việt nam đã trải dài trên bốn ngàn năm . Bốn ngàn năm với vui buồn trộn lẫn và tiếng nuớc Viêt ấy đã khóc cuời theo mệnh nuớc nổi trôi . Quá tuyệt ! Vận nuớc Việt Nam đã bao lần trôi nổi và người dân Việt , với tiếng nói đã theo vận nuớc mà khóc cuời !

Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!


Tôi thích giòng nhạc cao nhưng khi tha thiết thì xuống ngậm ngùi bằng tiếng than Ơi . Tiếng Việt ta, khi kêu than thuờng Trời ơi hay Chúa ơi, Phật ơi và cả mẹ ơi . Vì thế , lời Nuớc ơi của giòng nhạc ở Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi! rất não lòng
Lời tiếp theo -như một lời nhăn nhủ - tiếng mẹ sinh thoắt ngàn năm thành tiếng nuớc tôi . Chữ Thoắt ở đây, tôi cảm nhận như một nét chấm phá trong một bức hoạ .

Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi
Thoắt ngàn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi!

Giòng nhạc vẫn thanh thoát mà đầm ấm , cao sang khi "tiếng ngang trời " để rồi chùng xúông như tiếng vỗ về " Những câu hò giận hờn khôn nguôi " . Vâng, yêu tiếng sáo diều ngang trời và yêu những câu hò đối đáp giữa đêm trăng sáng giữa trai làng gái quê . Tôi thích chữ khôn nguôi . Đúng là lời đặc trưng của miền bắc, khôn nguôi . Nghe da diết thắm thiết hơn là chữ không quên

Tôi yêu tiếng ngang trời
Những câu hò giận hờn khôn nguôi
Nhớ nhung hoài mảnh tình xa xôi
Vững tin vào mộng đẹp ngày mai

Sau giai điệu khá cao nhưng thiết tha, nhạc phẩm chuyển sang giai điệu khác . Từng lời đuợc kể lể như tiếng thủ thỉ của mẹ già , thuớt tha như tiếng võng đưa sau hè :


Một yêu câu hát Truyện Kiều
Lẳng lơ như tiếng sáo diều (ư diều) làng ta 

Và yêu cô gái bên nhà
Miệng xinh ăn nói mặn mà có duyên



Nhạc sỹ đã -rất khéo léo -lại đưa vào giòng nhạc -môt tác phẩm nổi tiếng của văn học nước nhà - Truyện Kiều ! Ví von câu hát lẳng lơ như tiếng sáo diều -theo tôi -rất tài tình. Ai mà chẳng biết Kiều -có phần lẳng lơ ? Có chút lẳng nên Kiều đã dám leo rào qua với Kim Trọng . Nhưng ..ví lẳng lơ như tiếng sáo diều làng ta làm tôi thú vị . Tôi trộm nghĩ , hẳn là 'làng ta ' -với tiếng sáo diều của một anh chàng mục đồng nào đó đã quyến rũ đuợc một cô gái quê . Vâng, nếu tiếng hát Trương Chi diễm tuyệt đã nao lòng tiểu thư lầu son gác tía thì tiếng sáo diều của trai làng cũng đã rung động cô gái quê . Há chẳng phải là tiếng sao diều lẳng lơ đó ư ?

Qua đoạn sau , vẫn giòng nhạc muợt mà và lời ca trữ tình . Lời ca vẽ ra một giải đất Việt Nam yêu dấu nằm phới phới bên bờ biển xanh ! nếu như đoạn truớc , chữ nổi trôigợi hình bao thăng trầm dâu bể thì đoạn này, chữ phơi phới lột tả hình ảnh tươi mát xinh đẹp của quê hương . Nhìn quê hương và ví như một cô gái xinh đẹp nằm phơi phới , quả là chỉ có người nhạc sỹ bao năm lăn lộn đi suốt cả chiều dài đất nuớc !
Rồi tiếp theo là cả một hùng ca với Ruộng đồng vun sóng ra Thái bình ! Yêu biết bao những lời tình ca ấy. Tâm hồn người dân Việt nô nức, tự hào khi thấy quê hương nhìn trùng dương hát câu no lành ! ai có thể viết đuợc lời hùng vĩ Vun sóng ra Thái bình như Phạm Duy ?




Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanh
Ruộng đồng vun sóng ra Thái Bình
Nhìn trùng dương hát câu no lành

Một lần nữa, giòng nhạc rực rỡ , như một khẳng định hai với hai là bốn " Đất nuớc tôi " và rồi trầm giọng nhưng kiêu hãnh " Dãy Trừơng Sơn ẩn bóng hoàng hôn ! " Tôi thích biết bao khi đuợc nghe điệp khúc khẳng định Đất nước tôi , đất nuớc tôi ..!

Với tất cả chúng ta, khi học lịch sử , từng biết đến dãy Trừơng Sơn và nhạc sỹ, một lần nữa lại khéo léo đưa địa danh ấy vào giòng nhạc quê hương . Những lời sau, đem đến cho chúng ta niềm tự hào dân tộc bát ngát !Từ đất miền tây , núi rừng Bắc đến lúa miền Nam . Tôi thú vị khi thấy như cả một môn địa lý trong Tình ca !




Đất nước tôi! Dẫy Trường Sơn ẩn bóng hoàng hôn
Đất miền Tây chờ sức người vươn, đất ơi! 

Đất nước tôi! Núi rừng cao miền Bắc lửa thiêng
Lúa miền Nam chờ gió mùa lên, lúa ơi!

Những lời sau làm lòng tôi não nuột vì xúc động . Vâng, quê hương tôi với ba miền yêu dấu , mỗi miền một vẻ đã đóng góp cho Việt Nam môt nét riêng , vô cung riêng và tôi tư hào biết bao . Nhạc sỹ thật đã hiểu thấu đáo vô cùng về mỗi vùng đất để viết nên nhưng câu diễm tuyệt

- Biết ái tình ở giòng sông Hương ! vâng, ai không biết Huế đa tình lắm Huế ơi ? 

Sống no đầy là nhờ Cửu Long ! Vâng, vựa lúa gạo của quê hương tôi chính là miền Nam yêu quý , là giòng Cửu Long bồi đắp mầu mỡ cho ruộng đồng !
Máu sông Hồng đỏ vì chờ mong . Vâng, ai không biết sông Hồng thuờng ngập lụt và con sông đỏ mầu máu đang ngóng chờ ?

Chỉ ba câu cho ba giòng nhạc đã gợi lên cho người Việt đủ ba miền yêu quý Nam Trung Bắc, tượng trưng cho ba miền là ba con sông : sông Hương,sông Hồng và Cửu Long . Thật tuyệt .




Tôi yêu những sông trường
Biết ái tình ở dòng sông Hương
Sống no đầy là nhờ Cửu Long
Máu sông Hồng đỏ vì chờ mong

Giòng nhạc trở lại trữ tình,thủ thỉ . Những tâm tình nhân bản, đầy ắp tình người , như thuờng thấy trong hầu hết tình ca của Phạm Duy :




Người yêu thế giới mịt mùng
Cùng tôi xây đắp ruộng đồng Việt Nam
Làm sao chắp cánh chim ngàn
Nhìn Trung Nam Bắc kết hàng mến nhau

Từ lúc thầm thì to nhỏ, tôi yêu đất nuớc tôi từ khi mới ra đời bằng tiếng mẹ ru hời , yêu câu hát Kiều lẳng lơ , rồi yêu đất nuớc xinh đẹp với ba giòng sông , mơ uớc Nam Trung Bắc xếp hàng , nhạc sỹ bắt đầu đi đến hình ảnh cụ thể : bác nông phu ! Nhạc sỹ không nói đến nhà nho mà lại là bác nông phu ! Bác nông phu , không hề thê thảm với áo rách vai mà là hào hùng với mình đồng da sắt ! Ai mà không xúc động truớc sự ca tụng này , dành cho những con người vùng quê , đem no đầy đến cho tất cả chúng ta ? Bác nông phu vài ngàn năm đứng trên đất nghèo ! Tuyệt ! Làm sao nhạc sỹ tài hoa lại phóng ra đuợc lời Vài ngàn năm ? vài ngàn năm đứng trên đất nghèo ! Xứng đáng chăng cho chúng ta nghiêng mình truớc sự hy sinh vô bờ , nỗi vất vả gian lao của bác nông phu , của những mẹ quê chỉ biết cần lao ?




Tôi yêu bác nông phu, đội sương nắng bên bờ ruộng sâu
Vài ngàn năm đứng trên đất nghèo
Mình đồng da sắt không phai mầu
Tấm áo nâu! Những mẹ quê chỉ biết cần lao
Những trẻ quê bạn với đàn trâu, áo ơi!
Tấm áo nâu! Rướn mình đi từ cõi rừng cao
Dắt dìu nhau vào đến Cà Mâu, áo ơi!

Sau hình ảnh cụ thể về nguời xứng đáng được ca tụng là "bác nông phu ", nhạc sỹ đã làm nức lòng người nghe, nguời dân Việt bằng niềm tự hào về những con người đã làm nên lịch sử : những vị anh hùng của các giòng họ Lý Lê Trần ! Nhạc phẩm, bây giờ , lại như một bài lịch sử ! Nhạc sỹ đã không ngừng ở qúa khứ với Lý Lê Trần mà hướng đến tương lai với câu " và còn ai nữa ' vâng, thế hệ trẻ khi nghe hát đến đoạn này, sẽ cảm thấy nức lòng để muốn dấn thân làm một cái gì đó cho quê hương , để góp vào trang lịch sử oai hùng của dân tộc cùng với Lý ,Lê Trần !! Ngày xưa, khi còn bé, nghe đến đoạn này, tôi đã xúc động khóc ròng . Ôi quê hương tôi !




Tôi yêu biết bao người
Lý, Lê, Trần... và còn ai nữa
Những anh hùng của thời xa xưa
Những anh hùng của một ngày mai

Đoạn kết là lời tình tự cho quê hương , bình dị " vì yêu, yêu nuớc, yêu nòi " .




Vì yêu, yêu nước, yêu nòi
Ngày Xuân tôi hát nên bài Tình Ca
Ruộng xanh tươi tốt quê nhà
Lòng tôi đã nở như là đóa hoa!

Tình ca, một nhạc phẩm viết về quê hương rất tuyệt của Phạm Duy, bao gồm cả địa lý, lịch sử , văn học . Nhạc phẩm đã phả vào lòng người Việt niềm tự hào dân tộc, nỗi buồn vui của một đất nuớc với bao thăng trầm , đã khơi dậy tình yêu quê hương , một thứ tình cao cả nhất trong mọi thứ tình !

Viết tại Rừng Gió mùa thu 2004

Hoàng Lan Chi






Tình ca 

Tác Giả: Phạm Duy - Trình Bày: Thái Thanh

Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi, tiếng ru muôn đời
Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!
Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi
Thoắt ngàn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi!
Tôi yêu tiếng ngang trời
Những câu hò giận hờn khôn nguôi
Nhớ nhung hoài mảnh tình xa xôi
Vững tin vào mộng đẹp ngày mai

Một yêu câu hát Truyện Kiều
Lẳng lơ như tiếng sáo diều (ư diều) làng ta
Và yêu cô gái bên nhà
Miệng xinh ăn nói mặn mà có duyên

Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanh
Ruộng đồng vun sóng ra Thái Bình
Nhìn trùng dương hát câu no lành
Đất nước tôi! Dẫy Trường Sơn ẩn bóng hoàng hôn
Đất miền Tây chờ sức người vươn, đất ơi!
Đất nước tôi! Núi rừng cao miền Bắc lửa thiêng
Lúa miền Nam chờ gió mùa lên, lúa ơi!
Tôi yêu những sông trường
Biết ái tình ở dòng sông Hương
Sống no đầy là nhờ Cửu Long
Máu sông Hồng đỏ vì chờ mong

Người yêu thế giới mịt mùng
Cùng tôi xây đắp ruộng đồng Việt Nam
Làm sao chắp cánh chim ngàn
Nhìn Trung Nam Bắc kết hàng mến nhau

Tôi yêu bác nông phu, đội sương nắng bên bờ ruộng sâu
Vài ngàn năm đứng trên đất nghèo
Mình đồng da sắt không phai mầu
Tấm áo nâu! Những mẹ quê chỉ biết cần lao
Những trẻ quê bạn với đàn trâu, áo ơi!
Tấm áo nâu! Rướn mình đi từ cõi rừng cao
Dắt dìu nhau vào đến Cà Mâu, áo ơi!
Tôi yêu biết bao người
Lý, Lê, Trần... và còn ai nữa
Những anh hùng của thời xa xưa
Những anh hùng của một ngày mai

Vì yêu, yêu nước, yêu nòi
Ngày Xuân tôi hát nên bài Tình Ca
Ruộng xanh tươi tốt quê nhà
Lòng tôi đã nở như là đóa hoa!

----------------------------------------
Xin mời nghe  nhạc : 
nên sử dụng từ khóa sau để tìm kiếm trên google hoặc copy đường line dán vào thanh địa chỉ web để nghe và tải nhạc về máy


Tình ca  (do Thái Thanh trình bày) : 
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=1yMo7mCCS4



Tình ca Tiếng nước tôi  (Video Pari by night)
http://www.youtube.com/watch?v=BTjHmHO3VwA

Bạn có biết?



14 quyển sách kinh điển - các sách trong chương trình học chủ chốt của Đại học Columbia 
 Nó chưa hẳn là hoàn hảo, nhưng cũng là một danh sách tốt của một nguyên tắc chung về nền văn minh phương Tây mà tôi được biết.  Đó là:
(1) sử thi Aeneid của Virgil; 
(2) sử thi Metamorphoses của Ovid;
 (3) Lời thú tội của Saint Augustine;
 (4) Thần khúc của Dante; 
(5) Các tiểu luận của Montaigne; 
(6) Vua Lear của Shakespeare; 
(7) Don Quixote của Cervantes; 
(8) Faust của Goethe; 
(9) Kiêu hãnh và định kiến của Austen;
 (10) Tội ác và trừng phạt của Dostoevsky; 
(11) Tới ngọn hải đăng của Woolf.
(12) Chiến tranh và hòa bình - Lev Tolstoy, 
(13)Great Expectations - Charles Dickens
(14) Moby Dick của Herman Melville .


3 thg 4, 2012

Kinh nghiệm học các môn xã hội

Ghi nhớ hiệu quả môn khoa học xã hội
Với nhiều học sinh (HS) phổ thông, việc học và ghi nhớ kiến thức các môn như ngữ văn, lịch sử, địa lý… thường khó khăn.
Có một số phương pháp và cách thức học tập chia sẻ với học sinh khi mùa thi đang đến gần.
1. Xác lập kiến thức đã học thành dàn ý
Trên cơ sở bài học trên lớp, HS cần tham khảo thêm tư liệu để hoàn chỉnh khối kiến thức. Về nhà tiến hành đọc để khắc sâu kiến thức lại 1-2 lần. Sau đó, xác lập khối lượng kiến thức đó dưới dạng một dàn ý (đề cương). Với các môn khoa học xã hội, không nên ghi nhớ theo kiểu máy móc, học vẹt, học tủ mà cần có các ghi nhớ theo cách hệ thống hóa các chương, mục, rồi mới phân tích các nội dung chi tiết, các đặc điểm... Trong hệ thống dàn ý đó, phải chia các ý chính và ý phụ đồng thời đi liền với nó là các đề mục tương ứng như: I, II, III (đối với các ý chính); 1, 2, 3…  (đối với các ý phụ) nhằm tạo điều kiện cho quá trình học dễ nhớ, dễ thuộc hơn.
2. Ghi nhớ - chép thầm
Đó là phương pháp đọc nhẩm hoặc có thể vừa đọc nhẩm vừa dùng bút ghi ra giấy dàn ý đã xác lập nêu trên. Trong quá trình ghi nhớ thầm, nếu quên một ý nào đó thì phải xem lại kiến thức và ghi lại vào giấy nhiều lần ý đã quên. Phương pháp này phải tiến hành từ từ, trước tiên là học thuộc các ý chính để nắm nội dung toàn bài, sau đó học các ý nhỏ trong ý chính đó. Cuối cùng, phải hệ thống lại toàn bộ kiến thức bài học bằng cách ghi ra giấy như một dàn bài hoàn chỉnh rồi đọc nhẩm lại một lần nữa đến khi cảm thấy đã hoàn toàn thuộc hẳn thì mới chuyển sang học bài khác hoặc môn khác.
3. Vẽ bản đồ tư duy
Vẽ bản đồ tư duy cũng là một phương pháp học nhiều HS và sinh viên hiện nay áp dụng. Hiệu quả của cách học này rất hữu hiệu, nhất là với các môn khoa học xã hội. Trong quá trình đơn giản hóa khối kiến thức bài học bằng bản đồ tư duy, phải chú ý mối quan hệ giữa các kiến thức với nhau để tránh chồng chéo, nhầm lẫn giữa các đơn vị kiến thức. Ngoài ra, có thể dùng bút màu để tái hiện lại nội dung từng bài, từng chương đã học sao cho khoa học, dễ nắm bắt và dễ học thuộc hơn.
Văn Hà

Kinh nghiệm ôn thi tốt nghiệp THPT 2012

Để đạt kết quả cao kỳ thi tốt nghiệp THPT
(TNO) Nhằm giúp học sinh lớp 12 tự tin bước vào kỳ thi tốt nghiệp, Báo Thanh Niên tổ chức buổi tư vấn trực tuyến hướng dẫn ôn thi với chủ đề “Để đạt kết quả cao kỳ thi tốt nghiệp THPT” lúc 14 giờ ngày 3.4.
Tham gia chương trình gồm có:
Thạc sĩ Nguyễn Duy Hiếu - Tổ trưởng tổ toán Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong
Thạc sĩ Triệu Thị Huệ - Tổ trưởng tổ văn Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong
Cô Trần Thị Huyền Thanh - Tổ trưởng tổ tiếng Anh Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai
Thạc sĩ Bùi Văn Thơm - giáo viên môn hóa học Trường THPT Vĩnh Viễn
Cô Đỗ Thị Thanh Thủy - Tổ trưởng lịch sử Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền
Thầy Trần Văn Quang - Tổ trưởng tổ địa lý trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa
Bạn đọc quan tâm có thể đặt câu hỏi theo hướng dẫn trong bài.
Đúng 14 giờ, chương trình chính thức bắt đầu.

Toàn cảnh buổi trực tuyến - Ảnh: Đ.N.T

Chị Đào Hồng Hạnh (phải), Ủy viên Ban biên tập, Phó tổng thư ký tòa soạn Báo Thanh Niêntặng hoa các thầy, cô tham gia chương trình - Ảnh: Đ.N.T
Trong các môn thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH-CĐ, có lẽ môn lịch sử tạo sự quan tâm chú ý nhất của dư luận. Nhiều năm gần đây, sử là môn thi có điểm bình quân thấp nhất trong các môn thi tốt nghiệp THPT, là môn thi có điểm bình quân thấp nhất của khối C nói riêng và tất cả các môn thi tuyển sinh ĐH nói chung, là môn thi mà số học sinh đạt điểm dưới trung bình nhiều nhất, bị điểm 0 và 0,5 với tỷ lệ cao nhất.
Nói chung, phần lớn HS đều lo ngại khi phải thi môn này. Vì thế phần đầu tiên trong buổi tư vấn hôm nay, cô Đỗ Thị Thanh Thủy - Tổ trưởng tổ lịch sử Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, đã dành cho các bạn thí sinh một số lời khuyên để ôn thi tốt môn này.
Cô Thanh Thủy cho biết, để học tốt môn sử, các em HS cần phải biết cách "chia để trị". Tức là nên chia nhỏ ra để dễ học và đỡ ngán vì lượng kiến thức quá dài và dễ quên, lẫn lộn.
Ví dụ, với hai phần kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ thì nên học phần nào trước. Tôi nghĩ các em nên ôn phần chống Mỹ trước, vì các em mới học xong ở học kỳ 2, ôn lại thì sẽ dễ nhớ.

Các phần về đổi mới cũng vậy, nên chia nhỏ ra. Học xong phần đổi mới rồi, sau 1 tuần, các em có thể học phần kháng chiến chống Pháp.
Như vậy các lượng kiến thức tiếp thu sẽ tốt hơn, dễ dàng hơn. Sau khi ôn luyện kiến thức giai đoạn học kỳ 2 rồi thì chuyển sang ôn lại giai đoạn học kỳ 1, liên quan đến sử thế giới.
Sử thế giới các em không cần chia giai đoạn, chỉ có 6 vấn đề chính để học như trật tự thế giới sau chiến tranh thế giới 2, Liên Xô - Đông Âu, phong trào giải phóng dân tộc, các nước Âu Mỹ, mối quan hệ quốc tế, cách mạng khoa học - công nghệ.
"Để giảm lẫn lộn, các em cần lập một bảng chia thành các ô nhỏ, nói về ý nghĩa mấu chốt cho từng chủ đề. Các ô này sẽ tạo nên sự khác biệt để phân biệt các giai đoạn, các chiến dịch... giúp các em đỡ lẫn lộn", cô Thanh Thủy tư vấn.

Toàn cảnh buổi trực tuyến (P1)

Toàn cảnh buổi trực tuyến (P2)
* Một câu hỏi bạn đọc gửi đến cho buổi giao lưu thông qua website: Đối với môn sử, nếu chỉ cần học sách giáo khoa thôi có thể đạt điểm 5 không?
- Cô Đỗ Thị Thanh Thủy - Tổ trưởng lịch sử Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền: Em học trong sách giáo khoa là quá đủ, quá dư.

* Trần Thị Mỹ Huyền, học sinh lớp 12C3 Trường trung học Thanh Bình TP.HCM có mặt tại buổi giao lưu đặt câu hỏi: Cách học tiếng Anh ở các trường THPT thế nào? Làm sao nắm được ngữ pháp các thì? Làm thế nào có kỹ năng tốt để làm phần writting?
- Cô Trần Thị Huyền Thanh - Tổ trưởng tổ tiếng Anh Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai: Trong chương trình lớp 12, sách giáo khoa không đưa hết những mẫu câu cơ bản từ cấp 2. Nhưng khi đi thi tốt nghiệp, đề tốt nghiệp PTTH đưa tất cả mẫu câu từ khi học tiếng Anh. Các em nên đưa ra ví dụ đơn giản, mẫu câu đơn giản trong đời sống hằng ngày để dễ nhó.
Để làm được writting, các em cũng phải nắm mẫu câu văn phạm (cấu trúc, thì, chính tả...).

Tham gia chương trình còn có các em học sinh đến từ Trường trung học Thanh Bình TP.HCM - Ảnh: Đ.N.T
* Cũng liên quan đến môn sử, trả lời câu hỏi tại hội trường của HS tên Hiếu từ Trường trung học Thanh Bình TP.HCM về việc học làm sao để nhớ được các sự kiện lịch sử, và làm sao học thuộc bài, cô Đỗ Thị Thanh Thủy một lần nữa nhấn mạnh việc học bài môn sử cần phải khoa học.

HS cần chia các mốc lịch sử và hiểu được các giai đoạn lịch sử thì sẽ không bị nhầm lẫn so với các HS theo cách học vẹt.
Khi HS nhớ được các mốc chính của lịch sử, thì sau đó sẽ dễ dàng trong việc nắm các sự kiện nhỏ trong giai đoạn lịch sử đó.
* Bạn đọc ở Tân Chánh Hiệp, Q.12 thắc mắc: Năm trước em trượt thi tốt nghiệp, và năm nay em chỉ ở nhà đọc sách, nghiên cứu, liệu có thể thi môn địa lý được không?
- Thầy Trần Văn Quang - Tổ trưởng tổ địa lý trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa: Trong môn địa lý, ngoài vấn đề kiến thức giáo khoa còn có phần vẽ biểu đồ, đọc atlat. Nếu em chỉ ở nhà đọc sách và nghiên cứu thì chỉ đạt được điểm 5.
Hiện tại, đề thi còn bao gồm phần ứng dụng, không chỉ là học thuộc lòng, máy móc. Trong phần vẽ biểu đồ, các em có thể sẽ vẽ sai. Hoặc trong phần đọc Atlat, các em sẽ có thể lộn vùng này sang vùng khác, tỉnh này sang tỉnh khác…
Để khắc phục điều này, em cần phải xem các hướng dẫn ôn tập, vẽ biểu đồ. Cần nghiên cứu, đối chiếu với Atlat. Nghiên cứu cách vẽ như thế nào, vẽ sao cho chính xác và nhận xét ngắn gọn.
* Giải đáp thắc mắc của một bạn đọc gửi đến chương trình về cách học tốt môn địa, thầy Trần Văn Quang - Tổ trưởng tổ địa lý trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa cho biết: Để dễ nhớ môn này thì mỗi bài học các em cần nắm vững các kiến thức căn bản, lập sơ đồ tổng quát dạng hình cây thư mục để nắm ý chính.

Toàn cảnh buổi trực tuyến (P3)

Toàn cảnh buổi trực tuyến (P4)
* Thầy Trần Văn Quang - Tổ trưởng tổ địa lý trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa, hướng dẫn học sinh một số chú ý trong làm bài thi môn Địa lý: Môn Địa lý không chỉ có lý thuyết mà có biểu đồ, atlat. Vì vậy, bên cạnh học bài, học sinh cần rèn luyện kỹ năng vẽ biểu đồ và sử dụng atlat.

Mặt khác, trong atlat có tất cả các số liệu, biểu đồ để học sinh có thể tham khảo.

 Về vẽ biểu đồ, học sinh có thể phân biệt như sau:

- Nếu số liệu dưới 3 năm thì vẽ biểu đồ cột hoặc tròn. Trong đó, nếu số liệu có cơ cấu, tỉ trọng thì vẽ biểu đồ tròn. Nếu không có yếu tố trên thì vẽ biểu đồ cột.

- Nếu chuỗi số liệu trên 3 năm thì vẽ biểu đồ đường hoặc miền. Trong đó, nếu số liệu có cơ cấu, tỉ trọng thì vẽ biểu đồ miền. Nếu không có cơ cấu nhưng có thể hiện sự phát triển, tăng trưởng thì vẽ biểu đồ đường. Còn lại, không có những yếu tố trên thì vẽ biểu đồ cột.

Học sinh chú ý, biểu đồ đường trong atlat trang 15 vẽ sai, nên nếu vẽ giống vậy khi đi thi sẽ không có điểm.

Đối với atlat: học sinh hay sai vùng và tỉnh nên cần chú ý.

Thầy Trần Văn Quang - Tổ trưởng tổ địa lý trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa - Ảnh: Đ.N.T
* Bạn đọc Huỳnh Tú Lan đang online đặt câu hỏi cho con mình: Hiện thời gian ôn thi không còn nhiều nhưng bài học lịch sử quá nhiều, xin thầy cô tư vấn trọng tâm cho môn học này.
- Với câu hỏi này, cô Thủy cho biết, trọng tâm môn học tùy vào mong muốn của HS về điểm số. Nếu HS muốn được 3 điểm thì tập trung học hết phần sử thế giới, muốn 5 điểm thì học hết phần sử VN, và muốn đạt 8 điểm thì học hết cả sử thế giới và sử VN.
* Một bạn đọc Thảo Nguyên đặt câu hỏi: Làm cách nào để làm tốt một bài nghị luận xã hội mà không tốn nhiều thời gian?
- Thạc sĩ Triệu Thị Huệ - Tổ trưởng tổ văn Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong: Với cơ cấu ra đề gồm 3 câu hỏi, các em có thể dành 55 - 60 phút cho phần nghị luận xã hội với khoảng 400 chữ.

Trước hết, phải dành một khoảng thời gian ngắn để lập dàn bài. Chú ý đến những kỹ năng cơ bản khi viết bài nghị luận xã hội.
Nên chú ý đến các phần sau. Trước hết, giải thích khái niệm của vấn đề, với những đề bài có câu phát biểu, câu nói, từ ngữ thì rút ra ý nghĩa.

Phần thứ hai là bàn luận: Các em cần nêu những biểu hiện, khía cạnh, tác dụng, tác hại. Sau đó, đưa ra hệ thống dẫn chứng, chứng minh.
Sau cùng, rút ra bài học, nhận thức, hành động cho bản thân…

Thạc sĩ Triệu Thị Huệ - Tổ trưởng tổ văn Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong - Ảnh: Đ.N.T
* Thạc sĩ Nguyễn Duy Hiếu - Tổ trưởng tổ toán Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, hướng dẫn học sinh những chú ý để học và thi môn toán:
Để ôn tập tốt, thầy khuyên các em có kế hoạch ôn tập chia làm 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1, các em ôn tập theo từng chủ đề. Theo đó, đọc lại và bám sát sách giáo khoa; tự làm cho mình đề cương (gạch đầu dòng cho mình những ý cần nhớ) của từng chủ đề.
- Giai đoạn 2, các em tập giải những đề tổng hợp (có thể là những đề thi trước đây), để tự đánh giá xem mình làm được bao nhiêu % của đề, thấy hỏng chỗ nào thì ôn tập bổ sung chỗ đó.
Trong khi làm bài thi, học sinh cần lưu ý:
- Cần đọc một lượt qua đề thi và chọn bài nào mình làm tốt được thì làm trước.
- Làm bài thì phải trình bày đầy đủ, rõ ràng, không viết tắt.
- Đối với bài khó, nếu lỡ dính vào mà làm hoài làm không ra thì hãy chuyển sang làm câu khác. Không nên tập trung quá nhiều thời gian vào một bài.

Toàn cảnh buổi trực tuyến (P5)
* Bạn đọc tên Kim Loan gửi câu hỏi cho chương trình: "Em là HS hơi yếu môn Toán, vậy em có nên học thêm không? Nhờ các thầy cô chia sẻ một số hướng dẫn để ôn luyện tốt môn này?".
- Thạc sĩ Nguyễn Duy Hiếu - Tổ trưởng tổ toán Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong cho biết: "Thực tế thì đa số các em HS đều học thêm môn này. Nhưng nếu các em không phát huy vai trò tự học thì kết quả sẽ không tốt được".
Theo Thạc sĩ Hiếu, các em HS cũng nên tìm thêm sách để đọc và học thêm rồi tự ôn tập.
Nhà báo Thùy Ngân đặt câu hỏi là liệu có HS nào không dám không học thêm môn toán không? Có phải là nếu muốn thi ĐH đạt kết quả tốt thì HS buộc phải đi học thêm?
Thạc sĩ Hiếu khẳng định: "Chính xác là phải đi học thêm để thi ĐH vì đề thi ĐH có nhiều suy luận, khó hơn nhiều so với bài tập trong sách giáo khoa. Ngoại trừ các em HS đó quá xuất sắc mới không học thêm mà thi ĐH vẫn đạt kết quả tốt. Tôi biết ở Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong có một số em không cần học thêm vì các em đó tự học quá giỏi".

Thạc sĩ Nguyễn Duy Hiếu - Tổ trưởng tổ toán Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong - Ảnh: Đ.N.T
* HS Nguyễn Quốc Hiển tại hội trường đặt câu hỏi: Em thi khối B, học lực tốt môn toán và sinh, còn môn hóa thì chỉ tạm được, xin thầy cô cho biết cách ôn tập môn hóa để đạt hiệu quả.
- Trả lời câu hỏi này, thạc sĩ Bùi Văn Thơm - giáo viên môn hóa học Trường THPT Vĩnh Viễn cho biết: Lượng phương trình phản ứng hóa học rất nhiều, vì vậy để thuộc hết là rất khó đòi hỏi HS phải cố gắng và học coó phương pháp. Trong khi đề thi có sự tổng hợp cao nên nếu không nắm được các phản ứng hoa học thì khi lựa chọn trả lời trắc nghiệm, HS dễ bị nhầm lẫn.
Theo thầy Thơm, phương pháp học cần thiết là HS cần phải hệ thống bài vở để nắm chắc kiến thức, biết lập biểu để có thể so sánh điểm giống và khác của các chất, từ đó việc học sẽ dễ dnàg và nhanh chóng hơn.
Ngoài ra, HS cần phải tự làm bài kiểm tra thường xuyên vì thời lượng học với thầy cô giáo không đủ để nắm được chắc kiến thức. Có thể một nhóm bạn tự kiểm tra với nhau hằng ngày, vận dụng kiến thức hóa học trong các trò chơi để giúp việc học bài lý thú và nhanh thuộc bài hơn.
Cũng theo thầy Thơm, trước khi bước vào kỳ thi tốt nghiệp trung học, HS cần đọc thật kỹ chi tiết trong sách giáo khoa (bỏ những phần đọc thêm) vì những chi tiết đó sẽ nằm trong những câu bất ngờ giúp HS có điểm cao.

 Thạc sĩ Bùi Văn Thơm - giáo viên môn hóa học Trường THPT Vĩnh Viễn - Ảnh: Đ.N.T
* Bạn đọc Nguyễn Thị Thanh Lê: "Em rất ngán môn đạo hàm, thầy có thể hướng dẫn em phương pháp học môn này?".
- Thạc sĩ Nguyễn Duy Hiếu - Tổ trưởng tổ toán Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong: Đối vối phần đạo hàm, yêu cầu số 1 là thuộc bảng công thức đạo hàm, đạo hàm cơ bản, các quy tắc tính đạo hàm.
Với bài toán, cần xác định câu hỏi về việc áp dụng quy tắc nào. Sau đó, dùng quy tắc đó viết ra.
Cần phải áp dụng công thức, nếu không thuộc công thức thì sẽ không làm được bài. Chỉ cần các em tập nhiều thì sẽ quen.

Toàn cảnh buổi trực tuyến (P6)

Toàn cảnh buổi trực tuyến (P7)
* Bạn đọc Minh Trần: "Em gặp nhiều khó khăn trước môn hình học không gian với đủ loại hình thường khiến em rối tung lên. Thầy có thể hướng dẫn cách học và làm những bài dạng này?".
- Thạc sĩ Nguyễn Duy Hiếu - Tổ trưởng tổ toán Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong: Hình học không gian chỉ có một vài công thức song có nhiều loại hình khác nhau.

Vì ít thời gian nên thầy cô thường chỉ dạy những dạng cơ bản. Trước một hình mới, các em cần tìm mối liên hệ giữa những bài đã học với bài toán đặt ra.

Thường thì người ta lồng những bài cơ bản vào trong các hình mới. Nếu nhận ra được, hình cơ bản trong bài toán mới thì sẽ giải quyết được vấn đề.
* Một bạn HS tại hội trường đặt câu hỏi cho thạc sĩ Triệu Thị Huệ - Tổ trưởng tổ văn Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong: "Quá trình làm bài lỡ quên thơ và quên dẫn chứng thì mình xoay thế nào cho phù hợp?".
- Thạc sĩ Huệ chia sẻ: "Tôi không bao giờ khuyên HS học toàn bài thơ dài, và dẫn chứng dài. Một HS thông minh luôn biết cách đưa dẫn chứng gián tiếp và trực tiếp linh hoạt. Cái nào không nhớ chính xác thì em nên dẫn chứng gián tiếp, còn để trong ngoặc kép thì phải là dẫn chứng trực tiếp, cần tính chính xác'.
Còn về dẫn chứng thơ, cô Huệ cho rằng các em HS nên thuộc những đoạn thơ, câu thơ theo chủ đề quan trọng nhất, chứ không cần phải thuộc cả bài thơ.
Thạc sĩ Huệ đưa ra ví dụ cụ thể: "Chẳng hạn 2 nhân vật Mỵ (trong Vợ chồng A Phủ) và người vợ (trong Vợ nhặt). Các em cần làm rõ 2 luận điểm. Thứ nhất: cả 2 đều có số phận bất hạnh. Thứ hai: họ đều bộc lộ khát vọng sống mãnh liệt. Sau đó đối chiếu các khía cạnh của từng nhân vật một. Nhưng sự so sánh, đối chiếu đó cũng cần có rút ra kết luật mang tính đối chiếu về nghệ thuật thể hiện nhân vật ở từng tác phẩm.

Các em học sinh đặt nhiều câu hỏi thú vị cho các thầy, cô - Ảnh: Đ.N.T
* Thạc sĩ Triệu Thị Huệ - Tổ trưởng tổ văn Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, đã cho học sinh những lời khuyên để học tốt môn văn. Theo cô Huệ, hiện nay, hầu hết học sinh vẫn có suy nghĩ rằng văn là môn học thuộc bài nhưng thật sự không phải như vậy. Đây là môn để học một cách hiệu quả, các em cần có cách học chủ động. Các em cần chia bài học theo các nhóm, chủ đề. Các nhóm, chủ đề này có thể chia theo tiến trình văn học, theo thể loại hoặc theo chủ đề.
Khi làm bài, các em cần nắm chắc kỹ năng làm bài, đặc biệt với nghị luận văn học cần có những luận điểm rõ ràng.
Trong bài văn nghị luận xã hội, các em không nên được ôm đồm quá về dẫn chứng văn học. Mặc dù trong bài làm văn nghị luận xã hội, các em có quyền dẫn chứng văn học nhưng ưu tiên cho dẫn chứng ngoài đời.
Học sinh cần tránh tình trạng quá tải khi ôn tập. Trước khi thi không nên ôm đồm đọc quá nhiều tài liệu tham khảo.

Đặc biệt, có một quan điểm học sinh cần tránh là làm văn làm càng dài điểm càng cao. Vì không phải giáo viên chấm điểm bài làm văn theo độ dài, ngắn mà một bài văn tốt cần viết lý luận một cách rõ ràng, chặt chẽ và thuyết phục.

Mặc dù, đáp án có "khuôn" điểm cho từng ý nhưng điểm một bài văn vẫn có chỗ cho những cảm nhận, sáng tạo hợp lý của học sinh. Một điều thông thường, các bài văn đạt điểm cao đều có phần sáng tạo và trình bày cảm nhận của cá nhân một cách thuyết phục.

Toàn cảnh buổi trực tuyến (P8)

Toàn cảnh buổi trực tuyến (P9)
* Bạn đọc Bích Hằng ở Hà Nội hỏi: Ở môn tiếng Anh, khi làm bài thì HS thường mất điểm ở phần nào?
- Cô Trần Thị Huyền Thanh: Phần mà HS thường sai nhất là phần reading - đọc hiểu - vì HS có vốn từ ít. Trong một đoạn văn tiếng Anh, HS luôn không nắm hết các từ nên không nắm được nghĩa đoạn văn đó, vì vậy HS cần bình tĩnh đọc thoát nghĩa, đọc kỹ từng câu để phân tích ý nghĩa câu văn.

Ngoài ra, còn có phần writing, HS cần đọc kỹ các đáp án vì thường chúng có nghĩa rất gần nhau, dễ khiến HS nhầm lẫn.
* Trần Thị Mỹ Huyền, học sinh lớp 12C3 Trường THPT Thanh Bình TP.HCM: Trong môn tiếng Anh không chỉ có động từ, danh từ mà còn có cả giới từ. Xin cô chỉ cách để phân biệt cách sử dụng giới từ. Làm thế nào để làm tốt phần Reading comprehension?
- Cô Trần Thị Huyền Thanh - Tổ trưởng tổ tiếng Anh Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai: Trong môn tiếng Anh, giới từ là khó nhất. Nó có nhiều cách sử dụng khác nhau, với tính từ thì dùng khác, danh từ dùng khác, động từ thì dùng khác. Ví dụ như với danh từ difference thì dùng difference between, trong khi với động từ differ thì dùng differ from...
Để phân biệt giới từ cũng như làm tốt phần Reading comprehension, các em cần phải nâng cao vốn từ. Luyện các đề thi, học thành ngữ, học những từ khó. Cần chú ý tra từ điển ngay khi gặp những từ mới, biến nó trở thành kiến thức riêng của mình.

Toàn cảnh buổi trực tuyến (P10)
* Nhà báo Thùy Ngân: Xin các thầy cô cho các em học sinh những lời khuyên trong quá trình ôn thi, cũng như tâm lý khi vào phòng thi để có thể làm bài tốt?
- Thạc sĩ Nguyễn Duy Hiếu: Thông thường, khi gặp bài toán quen thuộc, học sinh có thể yên tâm làm nhưng khi gặp bài hơi lạ, các em nên tự đặt câu hỏi: Mình muốn giải bài toán đó phải làm việc gì; nên chuyển bài toán đó về bài quen thuộc trước.
Khi làm bài, các em không nên ngồi một tư thế suốt giờ thi mà có thể đổi tư thế, thay đổi trạng thái, chuyển sang câu khác hoặc... xin đa ra ngoài để uống nước.
Đối với môn toán, không phải làm nhiều là nhớ lâu mà quan trọng sau mỗi bài tập, các em phải rút được kinh nghiệm của bài toán đó.
Các em nên dành khoảng 1 phút ngẫm nghĩ lại xem trong bài đó có khâu nào là khâu mấu chốt. Cứ mỗi lần làm xong một bài toán, các em cần phải rút kinh nghiệm. Những chỗ nào là then chốt trong bài toán, các em ghi chú những ý đó lại.
- Cô Trần Thị Huyền Thanh: Còn ở môn thi tiếng Anh, môn này có ưu điểm là thi trắc nghiệm. HS cần bình tĩnh, câu nào dễ thì làm nhanh, câu nào chưa biết thì nên ghi chú lại. Sau khi đi hết những câu thấy dễ rồi thì quay lại những câu còn thắc mắc và suy nghĩ kỹ lưỡng để lựa chọn đáp áp cảm thấy đúng nhất. Còn lúc giờ cuối môn thi thì HS phải tô hết các đáp án và tô cẩn thận để máy chấm khỏi bỏ sót.

Chúc các em đạt kết quả tốt trong kỳ thi tốt nghiệp THPT sắp tới.
- Thạc sĩ Bùi Văn Thơm: Thường khi học thi các em chỉ làm bài tập, học bài trong vở ghi bài. Như vậy sẽ không đầy đủ như trong sách giáo khoa. Nhiều em mất điểm vì trong đề thi có những câu hỏi bất ngờ lấy từ những chi tiết, những phần nội dung rất nhỏ trong sách giáo khoa mà các em khi học không để ý.

Thế nên, thầy khuyên các em trước ngày đi thi phải dành một chút thời gian để đọc kỹ sách giáo khoa.
- Thạc sĩ Triệu Thị Huệ: Lời khuyên của cô dành cho các em là không nên có tâm lý nặng nề, cứ xem đó là một thử thách.
Cũng như các môn học khác, môn văn cần chủ động, các em không học thuộc lòng từng bài học mà hãy lập dàn ý, tái hiện hệ thống ý.
Các em cũng cần tránh tâm lý chỉ ôn tập phần văn học nước ngoài cho câu 2 điểm. Tuy nhiên, cũng không nhất thiết phải học thuộc lòng mọi tác giả ở Việt Nam. Cần nắm các đặc điểm nổi bật và phần khái quát của các tác giả.
Cuối cùng, như cô đã nói, các em không nên ôm đồm, tham lam với hệ thống dẫn chứng. Chỉ cần vừa phải, vừa đủ. Môn văn thi tốt nghiệp cũng sẽ không quá nặng nề với các em. Vì thế, các em cần giữ vững tâm lý. Môn văn thi đầu tiên nên nếu ổn định tâm lý môn đầu tiên, các môn khác các em sẽ thi tốt.
- Cô Đỗ Thị Thanh Thủy: Các em cần xác định trước là mình cần bao nhiêu điểm. 3 điểm thì học phần thế giới, 7 điểm học sử Việt Nam.
Theo cô Thủy, khi có đề thi thì các em cần viết ra các ý chính trước, ghi xong ý rồi hãy làm, để tránh trường hợp say sưa làm 1 câu rồi quên sạch các câu còn lại.
Còn nếu quên, nên bình tĩnh lại, hoặc xin ra ngoài uống nước cho tỉnh táo rồi làm tiếp.
- Thầy Trần Văn Quang: Không nên học thuộc lòng mà nên lập sơ đồ mỗi bài trên một tờ giấy, rồi cầm tờ giấy đó theo bên mình bất cứ đâu. Như thế, đi đâu các em đều có thể móc tờ giấy ra coi thì coi như học được 1 bài.
- Học phần dân cư trước, rồi học phần vùng.
- Cần rèn luyện kỹ năng vẽ biểu đồ để có thể vẽ biểu đồ nhanh.
- Không cần nhận xét biểu đồ dài dòng, chỉ khoảng dòng thôi mà cần nhận xét rõ ràng (nhận xét hàng ngang tăng - giảm, có liên tục không, theo hàng dọc thì xếp hạng nhất).
Nhớ dẫn chứng số liệu trong nhận xét vì nếu không có dẫn chứng số liệu thì câu trả lời không có điểm. Đặc biệt, trong nhận xét biểu đồ miền hoặc biểu đồ tròn cần chú ý chữ "tỉ trọng".
- Cần chú ý đem theo atlat khi đi thi. Atlat phải sạch sẽ, không đánh dấu, mang theo máy tính, com-pa, thước,... cần mang theo đầy đủ đồ nghề giống môn toán.
- Câu nào dễ làm trước.
Thạc sĩ Nguyễn Duy Hiếu - Tổ trưởng Tổ Toán Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (TP.HCM): Môn toán cần nắm vững công thức
Để học tốt môn toán, đầu tiên HS phải hiểu, thuộc và nắm vững các kiến thức trong sách giáo khoa (SGK). Khi làm bài tập cần theo tuần tự từ dễ đến khó, trước hết hãy làm các bài tập áp dụng trực tiếp các công thức để cũng cố lý thuyết sau đó mới làm các bài đòi hỏi suy luận và tư duy tổng hợp.
Sau khi làm xong một bài tập cần phải kiểm tra lại các bước giải, rút kinh nghiệm cho mình thông qua lời giải bài toán để nếu sau này gặp bài tương tự các em sẽ không lúng túng. Cuối mỗi chương cần phải làm nhiều bài toán tổng hợp.
Khi ôn tập các em nên ôn theo từng chủ đề. Các em cần đọc lại các bài học, sau đó tự làm cho mình một đề cương ôn tập. Mỗi một chủ đề bao gồm: Hệ thống các kiến thức cơ bản; tóm tắt phương pháp giải của các dạng bài tập; ghi chú những sai sót thường mắc phải. Cần ôn tập theo hướng dẫn của Bộ GD- ĐT đã ban hành.
Những kiến thức cần lưu ý
Về phần Giải tích bao gồm: 1. Khảo sát sự biến thiên và vẽ đồ thị các hàm số: Bậc ba, bậc 4 trùng phương và hàm hữu tỉ bậc 1/bậc 1 thật thành thạo. Một số bài toán liên quan đến khảo sát hàm số như: Viết phương trình tiếp tuyến, biện luận sự tương giao giữa hai đường, biện luận số nghiệm của phương trình bằng đồ thị, điều kiện để hàm số tăng hay giảm trên một tập cho trước, điều kiện để hàm số có cực trị,… Tìm GTLN, GTNN của hàm số trên tập hợp X cho trước…
2. Phương trình, bất phương trình mũ và lôgarit: Cần nắm vững các công thức biến đổi mũ, lôgarit và cách giải các phương trình, bất phương trình cơ bản: Đưa về cùng cơ số; đặt ẩn phụ; mũ hóa hay lôgarit hóa; đoán nghiệm…
3. Nguyên hàm, tích phân và ứng dụng: Tìm nguyên hàm của các hàm số cơ bản; Tính các tích phân dạng cơ bản (các công thức tích phân từng phần thường gặp, các cách đổi biến số (lưu ý tích phân của f(x) = sinmx.cosnx); Tính diện tích hình phẳng; Tính thể tích hình tròn xoay quanh trục Ox.
4. Số phức: Biết tìm phần thực - phần ảo - môđun của số phức. Tìm số phức liên hợp. Làm thành thạo các phép toán cộng, trừ, nhân chia số phức. Tập hợp điểm biểu diễn cho số phức thỏa điều kiện cho trước. Nắm vững cách giải phương trình bậc hai với hệ số thực…
Về phần Hình học không gian lưu ý: 1. Các công  thức tính thể tích khối đa diện: Luyện tập làm các bài toán tính thể tích của: tứ diện; của các  hình chóp: đều; có đáy là hình vuông, hình chữ nhật, hình thang và một cạnh  bên vuông góc đáy; có đáy là hình vuông, hình chữ nhật, hình thang và một mặt bên vuông góc đáy; của các hình lăng trụ: đứng, có hình chiếu của một đỉnh thuộc đáy này là một điểm đặc biệt của đáy kia.
Ôn lại cách dựng và tính: đoạn vuông góc từ một điểm đến một mặt phẳng, đoạn vuông góc chung của hai đường thẳng. Ôn lại cách xác định và tính góc: giữa hai đường thẳng, giữa đường thẳng và mặt phẳng; giữa hai mặt phẳng.
2. Nắm các công thức tính diện tích xung quanh, thể tích của mặt cầu, mặt trụ, mặt nón. Tập trung vào các bài toán tính diện tích xung quanh; tìm tâm và bán kính của mặt cầu ngoại tiếp hình chóp.
Về phần Hình học giải tích không gian thì cần phải nắm vững: Cách tìm các điểm đặc biệt trong tam giác (trọng tâm, trực tâm,...), trong tứ diện. Các công thức tính thể tích tứ diện, diện tích tam giác; Cách lập phương trình mặt phẳng trong các trường hợp cơ bản sau: đi qua ba điểm; đi qua một điểm và vuông góc với một đường thẳng; đi qua một điểm và song song với một mặt phẳng; đi qua một điểm và song song với hai đường thẳng; chứa một đường thẳng và vuông góc với một mặt phẳng; chứa hai đường thẳng song song; đi qua một đường thẳng và song song với một đường thẳng khác; đi qua một điểm và qua một đường thẳng, các công thức tính khoảng cách từ điểm đến mặt phẳng; giữa hai mặt phẳng song song, xét vị trí tương đối của hai mặt phẳng; Cách lập phương trình đường thẳng trong các trường hợp cơ bản sau: đi qua hai điểm; đi qua một điểm và vuông góc với một mặt phẳng; đi qua một điểm và song song một đường thẳng; đi qua một điểm và vuông góc với hai đường thẳng; phương trình hình chiếu của đường thẳng trên mặt phẳng;… Cách xét vị trí giữa hai đường thẳng; giữa một đường thẳng và một mặt phẳng.
Biết tìm hình chiếu của điểm trên đường thẳng; trên mặt phẳng; Với mặt cầu cần nắm được cách lập phương trình mặt cầu trong các trường hợp thường gặp: đi qua 4 đỉnh của một tứ diện; có tâm và tiếp xúc với một mặt phẳng; qua ba điểm và có tâm nằm trên một mặt phẳng; qua hai điểm và tâm thuộc một đường thẳng. Nắm vững cách tìm tâm và bán kính của đường tròn giao tuyến giữa mặt phẳng và mặt cầu.
Ở phần Đại số, kiến thức về phương trình, bất phương trình bậc hai thì nắm vững cách xét dấu nhị thức; tam thức bậc 2; định lí đảo về dấu tam thức bậc hai; Phương trình chứa trị tuyệt đối, chứa căn thì nắm vững các công thức cơ bản; các phương pháp giải: Biến đổi tương đương; đánh giá hai vế; đặt ẩn phụ; nhân liên hợp; đưa về phương trình tích; Hệ phương trình: Nắm vững cách giải các hệ phương trình: Bậc nhất 2 ẩn; đối xứng loại 1, loại 2; đẳng cấp; hệ phương trình tổng hợp; Bất đẳng thức, Giá trị lớn nhất và nhỏ nhất: Nắm vững phương pháp biến đổi tương đương; ứng dụng bất đẳng thức Cô-si cho 2 hoặc 3 số không âm; Bu-nhi-a-côp-ski cho 4 số hay 6 số; Điều kiện về số nghiệm của phương trình, bất phương trình: Nắm phương pháp dùng đồ thị và phương pháp đại số để định giá trị tham số thỏa yêu cầu về nghiệm cho trước.
Về phần Lượng giác: Giải phương trình lượng giác: Nắm vững công thức nghiệm, cách giải các phương trình: Cơ bản; bậc nhất theo sinx và cosx; bậc 2, 3 đối với một hàm số lượng giác; đưa về tích;…
Các em cần học thuộc các công thức lượng giác để biến đổi phương trình nhanh và tốt hơn; Các hệ thức lượng giác trong tam giác.
Về phần Hình học giải tích phẳng cần nắm vững các hệ thức liên hệ giữa các điểm đặc biệt trong tam giác (trọng tâm, trực tâm, tâm đường tròn ngoại tiếp,  nội tiếp, …); Các cách lập phương trình đường thẳng, đường tròn, elip; Tương giao giữa các đường thẳng, đường thẳng và đường tròn, các đường tròn…; Các tính chất thường gặp trong elip, hypebol.
Bích Thanh (ghi)
Thạc sĩ Triệu Thị Huệ - Trưởng bộ môn Văn, Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (TP.HCM): Ba điều cần lưu ý khi ôn tập môn Văn

1. Cần sớm xác định cách học và ôn tập chủ động, sáng tạo.
Trước hết, hãy dành thời gian lập kế hoạch ôn tập sao cho phù hợp và hiệu quả, tránh rơi vào tình trạng “nước đến chân mới nhảy”. Một số đông HS cảm thấy ngán ngại trước cuốn tập dày đặc những chữ, và thường không biết phải ôn từ đâu.
Có thể khắc phục tình trạng này bằng cách: hệ thống lại kiến thức đã học, “nhóm” các bài học (có thể theo giai đoạn, thể loại, chủ đề) lại với nhau, sau đó ôn theo hệ thống ý đối với mỗi bài cụ thể. Học và ôn phần truyện, có thể “nhóm” tác phẩm theo chủ đề như sau: chủ đề nhân đạo (Vợ nhặt - Kim Lân, Vợ chồng A Phủ (trích) - Tô Hoài); chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam (Những đứa con trong gia đình - Nguyễn Thi; Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành.
Một ví dụ: Khi đã xác định được các tác phẩm theo chủ đề nhân đạo, sẽ ôn từng bài cụ thể theo những biểu hiện chung của giá trị nhân đạo (thái độ của nhà văn trước bức tranh hiện thực trong tác phẩm: tố cáo các thế lực chà đạp con người, sự đồng cảm xót xa trước những số phận bất hạnh, sự trân trọng phát hiện trước những phẩm chất tốt đẹp của con người…). Việc ôn tập theo nhóm vì thế sẽ giúp HS tiết kiệm thời gian, chủ động giải quyết được nhiều đề văn khác nhau.
Khi ôn các tác phẩm văn học cụ thể, phải nắm thật chắc ý nghĩa tư tưởng và những đặc sắc nghệ thuật đó bởi lẽ đó là những kiến thức liên quan trực tiếp, cần áp dụng trong tất cả các dạng đề văn nghị luận (NLVH) có liên quan tới tác phẩm.
Với câu hỏi tái hiện kiến thức (2 điểm), cần tránh lối học thuộc lòng máy móc để có thể đáp ứng được yêu cầu có sự kết hợp cao giữa tái hiện và vận dụng kiến thức trong đề thi.
Cuối cùng, đừng quên ôn bài qua hệ thống câu hỏi trong phần luyện tập, hướng dẫn chuẩn bị bài, ôn tập cuối năm ở SGK.
2. Nắm chắc kĩ năng làm bài
Nhiều HS thừa nhận khi làm văn, nhất là NLVH, các em thường làm “na ná giống nhau” do không nắm được kĩ năng làm bài. Hẳn nhiên đó là một hạn chế lớn cần phải được khắc phục kịp thời.
Với mỗi dạng đề bài, phải có những cách giải quyết riêng, cũng giống như với mỗi một món ăn, cần có những gia vị, nguyên liệu riêng vậy.
Với đề bài nghị luận (NLXH), đặc biệt dạng đề bài về tư tưởng đạo lý, cần chú ý mức độ hợp lý khi trình bày các phần (giải thích, bàn luận, bài học nhận thức và hành động). Nhiều HS do quá chú ý tới bàn luận mà không chú ý đến khâu giải thích hoặc rút ra bài học nhận thức và hành động - vốn chiếm một số điểm không nhỏ trong đáp án chấm thi.
Dạng đề bài NLVH rất phong phú, có liên quan đến nhiều thể loại. HS cần nắm được đặc trưng thể loại (nhất là thơ, truyện) để từ đó có cách vận dụng phù hợp.
Chẳng hạn khi xác định được những yếu tố nghệ thuật trong một tác phẩm truyện như nghệ thuật khắc họa tình huống, cách thức xây dựng cốt truyện, kết cấu, nhân vật…, HS sẽ dễ dàng làm được dạng đề bài phân tích đặc sắc nghệ thuật của một tác phẩm truyện - vốn được coi là một dạng đề bài khó với nhiều HS.
Ngoài việc chú ý triển khai bài viết theo hệ thống luận điểm, HS cần chú ý đúng mức tới việc giới thiệu kiến thức khái quát về tác giả, tác phẩm (nên để ở phần đầu của bài viết) cũng như đánh giá, nhận xét, nâng cao vấn đề (nên để ở cuối bài viết).
Việc đưa dẫn chứng vào bài viết (ở cả hai dạng đề NLXH và NLVH) là không thể thiếu nhưng tránh ôm đồm, tham lam. Với những dẫn chứng dài, khó nhớ (ở tác phẩm truyện), không nhất thiết phải học toàn bộ dẫn chứng mà nên tách ra thành nhóm từ, kết hợp cách đưa dẫn chứng trực tiếp và gián tiếp. Khi làm bài văn NLXH, HS vẫn có thể sử dụng dẫn chứng văn học nhưng nên ưu tiên cho những dẫn chứng lấy trong đời sống thực tế.
3. Tạo tâm thế tự tin, thoải mái khi ôn bài và làm bài.
Đề bài dành cho kì thi TN THPT không quá khó. HS chỉ cần nắm chắc kiến thức cơ bản thuộc chương trình lớp 12, kĩ năng làm bài là có thể yên tâm. Trước kì thi, các em không nên đọc quá nhiều tài liệu tham khảo, vì chính điều này sẽ khiến các em bị “nhiễu”, đôi khi hoang mang trước những cách cảm nhận, phân tích không giống nhau. Cũng không nên hướng tới việc rèn luyện các đề bài quá khó, quá rộng, vì những dạng đề bài này chỉ phù hợp với các kì thi học sinh giỏi hay đại học.
Việc quan sát các đề thi TN THPT và đáp án một số năm gần đây cũng khá cần thiết để các em hình dung và làm quen dần với các dạng thức đề thi.
Cuối cùng, cần chú ý phân phối thời gian hợp lý khi làm bài thi. Với thời gian thi được quy định là 150 phút, HS nên dành khoảng 15 phút cho câu hỏi tái hiện kiến thức, 55- 60 phút cho câu NLXH và 70 - 75 phút cho câu NLVH. Bài thi chỉ có thể đạt điểm cao khi các em hoàn thành tất cả các câu trong đề bài.
Bích Thanh (ghi)
Giáo viên Trần Thị Huyền Thanh - Tổ ngoại ngữ Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai: 8 nội dung kiến thức cần lưu ý ở môn tiếng Anh
Để ôn thi tốt nghiệp tốt, bài làm đạt kết quả cao, HS cần theo sát SGK Tiếng Anh 12 vì đề thi có 50 câu và nội dung đề sẽ trải đều chương trình lớp 12 với các phần như Ngữ pháp - Từ vựng (22 câu) và câu có Chức năng giao tiếp (3 câu), còn lại là đọc hiểu, sửa sai…
Tuy nhiên, để nắm vững từ vững, các em cũng cần xem lại phần kiến thức này trong SGK lớp 10, lớp 11 với các chủ điểm về môi trường, tổ chức quốc tế, văn hóa thể thao, nghề nghiệp và giáo dục... HS ôn càng kỹ, kết quả càng cao.
Ngoài việc học từ vựng (vocabulary) như đã nêu ở trên, HS cần chú ý các nội dung kiến thức sau:
1/ Verb tense: - Học sinh cần chú ý khi: Dùng ngôi thứ ba số ít ở thì simple present; Thì present continuous dùng trong các câu có các từ như: ‘now / at the moment / right now / at present = presently’ hay có câu ra lệnh; Trong văn kể thường dùng với các thì ở quá khứ nhất là thì simple past; Những câu có after / before / as soon as … : thường dùng với past simple và past perfect; Present perfect SINCE simple past hoặc những từ như: just, for, lately = recently, ever ,never, so far = up to now = up to the present … : dùng present perfect; while , when = as by the time: 1 hành động tiếp diễn và 1 hành động cắt ngang trong quá khứ: Past continuous and simple past; xem các cách diễn tả tương lai của ‘simple future / future with ‘going to’ / present continuous / simple present’, thì của động từ trong các câu điều kiện (conditional sentence) và lời nói gián tiếp (reported speech).
2/ Verb forms - chú ý nhiều các trường hợp dùng Gerund (v-ing) sau một số động từ hay cụm động từ như like, enjoy, avoid, hate, start, do you mind, I don’t mind, keep, . . . be fed up with, be afraid of, be fond of, be aware of, be interested in, look forward to, be used to ( quen với ), be used for, can’t help...
Let + obj + do something; Help + obj + (to) do something; Have + person + do + something; Have + something + done; Watch + obj + V-ing; Make + obj + do something; Be made + to do something.
Ví dụ: A computer can help us (to) solve many complicated problems. It’s too late. Let’s go.
3/ Các cấu trúc: passive voice, reported speech, relative clause (còn gọi là adjective clause), participial phrase, to-infinitive phrase, conditional sentence (3 loại câu điều kiện). Phần này có thể chiếm trên 1/5 số điểm nhưng nằm rải rác ở nhiều nơi.
4/ Giới từ đi với các từ chỉ thời gian và nơi chốn, giới từ đi với động từ, đi với tính từ... nằm rải rác trong các bài học, và đặc biệt cần chú ý các phrasal verbs có trong SGK chuẩn (units 14 & 15 và Test Yourself F).
5/ Cách dùng của các từ nối như: because và because of // so, although / in spite of / despite / but / even though / however / therefore (units 7 & 9), và cách dùng articles (a, an, the, no article) (SGK chuẩn unit 8).
6/ Phân biệt cách dùng: so... that / such... that / too... for... to / not + adj+ enough to do something / enough + noun / as... as / not so... as / adj-ER + than / more adj + than / double comparative / the + comparative... , the + comparative... /
7/ Về trọng âm (main stress) chỉ chú ý các từ 2 hoặc 3 âm tiết: Những từ tận cùng bằng ic, tion , sion , ity, tual… nhấn vần trước đó, ví dụ: económics , translátion, intellétual ,ability…; Một số danh từ hay tính từ có 3 âm tiết, nhấn vần 1, ví dụ: cónfidence, pólitics, vértical…; Những từ tận cùng bằng ee, eer,sque, nhấn ngay từ có những từ đó, ví dụ voluntéer, pionéer, employée, referée, picturesqúe…
8/ Chú ý cách phát âm những âm cuối ‘S’, ‘ED’, ‘CH’ và một số nguyên âm hoặc phụ âm mà HS thường hay nhầm lẫn. ‘ED’ được phát âm là /t/ khi đứng sau các phụ âm vô thanh, ‘S’ được phát âm là /s/ khi cũng ở sau các phụ âm vô thanh và chữ ‘t’.
Ví dụ:
1. A. beat B. she C. leaden D. leader (C)

2. A. high B. light C. height D. weight (D)

3. A. chore B. cholera C. chorus D. chemist (A)

4. A. chef B. chief C. champagne D. sure (B)

5. A. closed B. passed C. laughed D. watched (A)

6. A. wicked B. naked C. booked D. founded (C)

Để làm quen trước với lời chỉ dẫn (instructions) bằng tiếng Anh của đề thi, học sinh có thể xem những câu mẫu trong các sách bài tập, các đề thi của những năm học trước…
Bích Thanh (ghi)
Cô Đỗ Thị Thanh Thủy - Tổ trưởng bộ môn lịch Sử Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền: Môn Lịch sử: Những nội dung cần phải học
Hiện nay, đa số học sinh đều chọn thi ĐH, CĐ với khối thi là các môn khoa học tự nhiên nên chỉ khi biết chính xác 6 môn thi tốt nghiệp, các em mới bắt đầu học. Vì vậy, học sinh sẽ gặp không ít khó khăn khi tiếp xúc với khối lượng kiến thức khổng lồ trong khi quỹ thời gian ôn tập còn quá ít. Vấn đề đặt ra là phải có phương pháp học như thế nào để đạt kết quả tốt nhất.
Trước tiên các em phải xác định mình sẽ phải học những gì? Chương trình lịch sử 12 gồm 2 phần Lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam.
Trong đó, lịch sử thế giới có 6 vấn đề lớn phải giải quyết, đó là: Sự hình thành trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới II; Liên Xô và các nước Đông Âu (1945 - 1991); Liên bang Nga 1991 - 2000; Các nước Á, Phi, Mĩ latinh (1945 - 2000); Các nước Mĩ, Tây Âu, Nhật bản (1945 - 2000); Quan hệ quốc tế (1945 - 2000); Cách mạng khoa học - công nghệ.
Và lịch sử Việt Nam có các vấn đề lớn như: Việt Nam trước khi thành lập Đảng (1919 - 1930); Việt Nam từ khi có Đảng đến Cách mạng tháng Tám (1930 - 1945); Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954); Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ (1954 - 1975); Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc và tiến hành công cuộc đổi mới đất nước (1975 - 2000)
Xác định được nội dung cần học rồi, các em cần có phương pháp ôn tập hiệu quả. Thời gian đầu của thời kì ôn tập, các em nên chia giai đoạn ra để học theo chương trình đã xác định ở trên. Ví dụ, phần Lịch sử Việt Nam các em thấy rất rõ 5 giai đoạn cần “ trị” và nên “trị” có tính hệ thống, giai đoạn nào trước nên học trước và cứ học lần lượt như vậy.
Thời gian sau, cơ bản các em đã nắm được kiến thức chính của từng giai đoạn nhưng quá nhiều nên rất dễ nhầm lẫn. Để khắc phục tình trạng này, các em nên học theo chủ đề. Phần Lịch sử Việt Nam sẽ chia theo những chủ đề chính. Ví dụ: Các kì Đại hội Đảng từ khi thành lập đến hết kháng chiến chống Mĩ, các Hội nghị ngoại giao được kí để kết thúc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, các chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp, các chiến lược trong kháng chiến chống Mĩ…
Trong quá trình ôn tập, các em cũng nên lưu ý những mốc thời gian và sự kiện chính trong tiến trình lịch sử. Ví dụ Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 - 1930 có những mốc chính cần ghi nhớ: 1925 - thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên; 1929 - thành lập 3 tổ chức Công sản; 1930 - thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam…
Khi học bài lịch sử, học trò thường kêu ca quá nhiều mốc thời gian và sự kiện nên rất khó nhớ. Thực tế khi đã ôn tập 1 thời gian các em mới biết rằng sự kiện và thời gian càng cụ thể càng dễ học. Phần mang tính lý luận như ý nghĩa lịch sử mới là phần dễ nhầm lẫn. Vậy các em nên xác định sự kiện đó nằm trong giai đoạn lịch sử nào, có vai trò gì trong giai đoạn đó. Ví dụ: Ý nghĩa của việc thành lập Đảng nên tư duy theo hướng Đảng ra đời là sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng đaị, quyết định những thắng lợi tiếp theo của cách mạng Việt Nam… Phần nguyên nhân thắng lợi của các chiến thắng từ sau khi có Đảng lãnh đạo thì nguyên nhân đầu tiên nên khắng định là có sự lãnh đạo của Đảng với đường lối đúng đắn, sáng tạo; tiếp theo là do có truyền thống (yêu nước, đoàn kết…)…
Bích Thanh (ghi)
ThS. Bùi Văn Thơm - Giáo viên trường THPT Vĩnh Viễn (TP.HCM): Môn Hóa học: Hệ thống hóa các chất, các loại phản ứng
Về lý thuyết, các em cần phải học tính chất hóa học của các chất, nhóm chất bằng cách hệ thống hóa, so sánh những điểm giống nhau và khác nhau, điều này sẽ giúp các em nhanh chóng chọn được phương án đúng.
Đây là phần có số lượng câu hỏi khá nhiều trong đề thi, không nên học từng chất riêng lẻ vì như thế sẽ khó nhớ hết được những phương trình phản ứng hóa học và sẽ xử lý chậm, mất nhiều thời gian.
Đối với hóa học hữu cơ các em cần có sự liên kết giữa các nhóm chất sau đây để so sánh: Amin, anilin, aminoaxit, liên kết với axit hữu cơ, phenol; Cacbohidrat: Glucozơ, fructozơ, mantozơ, sacarozơ, tinh bột, xenlulozơ liên kết với andehit và ancol; Este, lipit cần liên kết với ancol, andehit, axit; phần polyme các em nên xâu chuỗi lại dựa vào sự phân loại: theo nguồn gốc, theo cách tổng hợp, theo cấu trúc , tên riêng của các polime.
Đối với hóa vô cơ - phần kim loại, các em cần liên kết phần tính chất hóa học chung, so sánh chúng trong dãy điện hóa. Ngoài ra, trong mỗi nhóm kim loại cần nắm phần tính chất hóa học đặc trưng riêng như kim loại phản ứng với nước, với dung dịch kiềm…. Riêng phần kim loại sắt, cần quan tâm sự chuyển hóa giữa Fe(II) và Fe(III).
Bên cạnh đó, các em cũng có thể hệ thống hóa từng loại phản ứng, ví dụ như chất hữu cơ nào tham gia phản ứng với thủy phân, với Na, với dung dịch kiềm, với Cu(OH)2 ….Kim loại nào tác dụng với nước, với dung dịch kiềm, với dung dịch axit …. Hidroxit kim loại nào lưỡng tính… Nếu không làm được việc này các em sẽ gặp nhiều lúng túng khi làm bài. Chẳng hạn, đề thi tốt nghiệp THPT năm 2010 có các câu:
- Kim loại không phản ứng được với nước ở nhiệt độ thường là
A. Li B. Ca C. K D. Be
- Cho dãy các kim loại : K, Mg, Cu, Al. Số kim loại trong dãy phản ứng được với dung dịch HCl là
A. 3 B. 1 C. 2 D. 4
- Chất nào sau đây không tham gia phản ứng thủy phân?
A. Protein B. Saccarozơ C. Glucozơ D. Tinh bột
- Cho dãy các chất : CH3COOCH3, C2H5OH, H2NCH2COOH, CH3NH2. Số chất trong dãy phản ứng được với dung dịch NaOH là
A. 3. B. 2. C. 4. D. 1.
Riêng các bài toán trong đề thi tốt nghiệp khá đơn giản chỉ cần biết tính lượng chất tham gia phản ứng, chất tạo thành trong một phương trình phản ứng hóa học (có thể kèm theo hiệu suất phản ứng để tạo câu hỏi khó). Ví dụ, đề thi tốt nghiệp THPT năm 2010 có các câu:
- Cho m gam glucozơ phản ứng hoàn toàn với lượng dư dung dịch AgNO3 trong NH3 (đun nóng), thu được 21,6 gam Ag. Giá trị của m là
A. 16,2 B. 9,0 C. 36,0 D. 18,0
- Cho 15 gam hỗn hợp bột kim loại Zn và Cu vào dung dịch HCl (dư). Sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu được 4,48 lít khí H2 (đkc) và m gam kim loại không tan. Giá trị của m là
A. 2,0 B. 6,4 C. 8,5 D. 2,2
Tuy nhiên, trong đề thi tốt nghiệp THPT thường có một số ít câu hỏi khá bất ngờ để hạn chế bớt điểm 9, 10. Đây là những câu hỏi không khó nhưng do học sinh ít quan tâm nên dễ chọn phương án sai. Ví dụ một số tính chất vật lí đặc biệt của chất hữu cơ (như este có mùi thơm dễ chịu, anilin là chất lỏng không màu để lâu trong không khí chuyển thành màu đen…), kim loại có khối lượng riêng lớn nhất, cứng nhất, có nhiệt độ nóng chảy cao nhất trong dãy kim loại cho sẵn, các loại quặng, mỏ… Ví dụ, đề thi tốt nghiệp THPT năm 2010 có các câu:
- Cho dãy các kim loại : Mg, Cr, Na, Fe. Kim loại cứng nhất trong dãy là
A. Fe B. Mg C. Cr D. Na
- Cho dãy các kim loại kiềm: Na, K, Rb, Cs. Kim loại trong dãy có nhiệt độ nóng chảy thấp nhất là
A. Na. B. K. C. Rb. D. Cs.
- Trong tự nhiên,canxi sunfat tồn tại dưới dạng muối ngậm nước (CaSO4.2H2O) được gọi là
A. Thạch cao sống B. Đá vôi C. Thạch cao khan D. Thạch cao nung
- Quặng boxit là nguyên liệu dùng để điều chế kim loại
A. đồng B. natri C. nhôm D. chì

Thường học sinh hay học bài từ bài viết ở vở ghi bài, tuy vậy để đạt được điểm cao, các em phải đọc thật kĩ các chi tiết ở SGK Hóa học 12 ít nhất một lần trước ngày thi (nhớ lượt bỏ phần kiến thức giảm tải mà Bộ đã quy định)
B.Thanh (ghi)
Giáo viên Trần Văn Quang - Tổ trưởng môn địa lý Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa: Môn Địa lý: Ôn theo chủ đề, theo từng chương
Trước hết cần nắm vững cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT và mấy năm gần đây, để tránh học sinh học tủ, Bộ ra đề thi môn địa lý luôn có từ 7-8 câu hỏi nhỏ. Vì vậy các em nên lập kế hoạch ôn tập phù hợp trong sự kết hợp với các môn thi còn lại. Và kế hoạch cần ổn định, ít thay đổi, phải kiên trì thực hiện. Nếu cần nên tham khảo ý kiến thầy cô chủ nhiệm hoặc thầy cô bộ môn.
Học sinh nên ôn bài theo chương, chủ đề với tài liệu vô cùng quan trọng là Atlat. Khá nhiều bài của SGK lớp 12 có kiến thức trong Atlat như bài 6,7 - Đất nước nhiều đồi núi, phần phân bố dân cư của bài 17, phần Công nghiệp của bài 26, 27, thương mại du lịch ở bài 31, chương các vùng kinh tế từ bài 32 đến 42... Mỗi bài học cần nắm vững các kiến thức căn bản, lập sơ đồ tổng quát dạng hình cây thư mục để nắm ý chính
Sau khi nắm được các ý cơ bản, mỗi em nên lập cho mình các bảng ghi nhớ, so sánh các kiến thức như: Bảng ghi tên nhà máy thủy điện, tên sông và công suất nhà máy xếp theo thứ tự; Bảng so sánh đối chiếu giữa việc khai thác thủy điện giữa vùng núi trung du Bắc Bộ với Tây Nguyên; Bảng so sánh cây công nghiệp giữa Tây Nguyên và Đông Nam Bộ; Việc khai thác rừng giữa Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ, khai thác thủy sản của Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ… Những bảng ghi nhớ, so sánh này nên thiết kế sao cho vừa bằng một trang giấy học trò để đút túi và có thể ôn mọi lúc mọi nơi vừa nhẹ nhàng vừa nhanh chóng.
Đặc trưng của môn địa lý dù là môn học thuộc bài nhưng lại có rất nhiều số liệu cụ thể nên bên cạnh việc nắm ý cơ bản của các bài học từ đó hiểu và nhớ lâu các số thì trong 1 thời gian ngắn phải ôn thi 6 môn vì vậy các em chỉ cần nhớ những năm cuối.
Đặc biệt những sự kiện, những nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất có yếu tố đứng nhất các em cần phải chú ý đến nó. Ví dụ: Nhà máy thủy điện Hòa Bình trên sông Đà có công suất lớn nhất nước ta hiện nay là 1.920 MW còn Nhà máy thủy điện Sơn La đang xây sẽ lớn nhất khi xây xong là 2.400 MW.
Một điểm là học sinh nên chú ý đó là trong Atlat có nhiều số liệu như dân số, sản lượng điện, than, dầu, lúa… nhưng khi dùng các em nên lấy số liệu năm 2005 cho phù hợp với SGK.
Trong kỳ thi tú tài luôn có yêu cầu về các kỹ năng vẽ biểu đồ, phân tích bảng số liệu, nhận xét… Do đó, ngoài những kiến thức, những số liệu thì trong quá trình ôn tập, các em nên rèn luyện kỹ năng vẽ biểu đồ dựa trên các bài tập và các bảng số liệu trong SGK. Vẽ trên giấy thi càng tốt, tập nhiều lần như vậy các em sẽ vẽ nhanh và chia đúng tỉ lệ. Nếu được thì nhờ thầy cô bộ môn chấm dùm và cho ý kiến về bài vẽ. Đặc điểm riêng của kỳ thi tốt nghiệp là không yêu cầu vẽ lược đồ VN như thi CĐ, ĐH nên các em không cần chú ý đến phần kỹ năng này.
B.Thanh (ghi)